Showing posts with label nghèo. Show all posts
Showing posts with label nghèo. Show all posts

Sunday, February 2, 2014

Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội

Năm nay, gia đình anh Năm – chị Hải gói nhiều bánh chưng hơn năm ngoái, sắm thêm cả giò, thịt cá để lo Tết cho các con. Gia đình có 14 người con vẫn ước mong một cái Tết đủ đầy giữa bộn bề khó khăn của cuộc sống. 



Những ngày cuối năm Quý Tỵ 2013, gia đình có 13 con giữa Thủ đô Hà Nội đang đón đứa con thứ 14 của mình. Đó là kết quả của chị Đặng Thị Hải (43 tuổi) và anh Năm ở làng Cồ Bản, phường Đồng Mai, Hà Đông sau 25 năm cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 1


Căn lều của gia đình có 14 con ở Hà Nội nằm chênh vênh giữa cánh đồng


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 2


Căn lều ọp ẹp là nơi ở của 16 con người


Thông tin chị vừa sinh thêm đứa con thứ 14 chắc còn khá mới mẻ với nhiều người. Trong căn lều ọp ẹp dựng giữa cánh đồng, cháu nhỏ thứ 14 ra đời khi những ngày Tết Giáp Ngọ 2014 đang cận kề. Tất bật với công việc kiếm thêm đồng tiền lo Tết cho đại gia đình, chị Hải quên luôn ngày sinh nở của mình. Chị kể: “Đang làm việc giữa đồng, đau trở dạ, tôi bảo các cháu về nhà gọi người đến giúp để sinh nở. Từng ấy con nhưng đã có lần nào đến viện sinh nở đâu. Các cháu đều được sinh trong căn lều rách nát này”.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 3


Chị Đặng Thị Hải vừa bế con, vừa nhóm bếp chuẩn bị cơm cho cả gia đình


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 4


Trong khi đó, cháu Hoàng đang vớt con cá chết ở ao để nấu cho lợn ăn


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 5


Một thành viên trong gia đình đang băm rau cho lợn và gà ăn


Người phụ nữ gầy gò, làn da đen sạm tất bật lo cho các con, từ đứa lớn đến đứa bé. “Các cháu đều tuổi ăn tuổi học, tôi và chồng xây dựng gia đình với nhau năm 1988, từ đó đến nay, trong 25 năm, hai vợ chồng sinh liên tiếp 14 đứa con, trong đó có 8 con trai và 6 con gái, thường thì mỗi đứa cách nhau 2 năm, cũng có đứa chỉ cách nhau 1 năm”, chị Hải cho biết.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 6


Đàn gà là tài sản lớn của anh Năm và chị Hải giữa cánh đồng


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 7


Số lợn còn nhỏ chưa thể xuất chuồng vào dịp Tết Giáp Ngọ


Trong số 14 người con, 3 đứa lớn nhất đã xây dựng gia đình, nhưng người con gái lớn nhất sinh năm 1989 hiện cũng đã bỏ chồng về sống cùng bố mẹ ở túp lều rách nát giữa đồng. Còn 6 đứa em đang đi học tại các trường tiểu học và trung học gần nhà, 1 em đang đi mẫu giáo, còn 2 em bé nhất ở nhà với bố mẹ. Cả gia đình quanh năm mò cua bắt ốc ở cái ao trước lều trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Bữa đói bữa no, gian an vất vả càng nặng gánh khi chồng chị Hải lâm bệnh. Tăng gia bằng vài con gà, con vịt và ao cá, thu nhập hàng ngày không có mà chỉ trông vào cuối năm, nên hầu như những bữa ăn hàng ngày không bao giờ có thịt cá mà chỉ có rau nhặt nhạnh được trên cánh đồng.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 8


Căn lều tạm bợ, che chắn bởi chiếc bạt là nơi ở của hơn chục người trong gia đình anh Năm


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 9


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 10


Khu chuồng trại được xây dựng đơn sơ của gia đình anh Năm


Cả gia đình chen chúc trong căn lều rách nát giữa đồng. Gió thổi thông thốc vào lều khiến giấc ngủ của những đứa trẻ con không thể nào yên giấc. Không điện, không nước sạch, không ti vi… căn lều tuềnh toàng được che chắn bởi những tấm gỗ, tấm bạt, trong lều thì lộn xộn quần áo là tất cả tài sản mà gia đình anh chị có. Bữa cơm của cả gia đình ngày nào cũng như vậy, chỉ là những con tôm con cá bắt được ngoài đồng. Rau xanh gia đình cũng tự trồng để cải thiện bữa ăn.


Tết nghèo của gia đình đông con


Mỗi năm, Tết đến, gia đình chị Hải lại phải lo trăm bề. 14 đứa con, lo miếng ăn hàng ngày còn khó, huống chi là một cái Tết đủ đầy. Quanh năm mò cua bắt ốc, chỉ đủ lo ăn từng bữa, nên cái Tết lại càng khó khăn hơn với đại gia đình 14 con. Đối với gia đình anh Năm, ngày Tết không khác ngày thường là mấy, khi điều kiện kinh tế không cho phép, mỗi thành viên trong gia đình anh đều không mong chờ cái Tết như những gia đình khác. Ngày 30 Tết, mọi người trong gia đình vẫn làm việc bình thường, đứa lớn mò cua bắt ốc, đứa nhỏ phụ mẹ nấu thức ăn cho lợn gà… Cứ thế, ngày 30 trôi qua như không phải là thời khắc cuối cùng của năm cũ.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 11


Nải chuối chị Hải lấy từ vườn vào để chuẩn bị cúng gia tiên trong ngày Tết


“Tết đến lại càng lo hơn các chú ạ. Nhà đông con, không lo được cho các cháu miếng ăn, cái quần cái áo mới mặc Tết cũng thấy thương chúng nó lắm. Nhưng gia cảnh vậy rồi, không thể làm gì khác được, nên cứ ngậm ngùi cho qua ngày Tết”, anh Năm buồn bã nói. Chúng tôi hiểu rõ nỗi lo của những người bố, người mẹ khi không thể lo cho lũ trẻ mỗi độ Tết dến xuân về. Đối với những gia đình ít con, lo Tết còn là cả một gánh nặng, nên với gia đình anh Năm – chị Hải với 14 đứa con, làm sao lo xuể khi kinh tế gia đình chỉ bám vào cái ao, sào ruộng giữa đồng.


Ngày Tết không đào, không hoa, không trang trí nhà cửa hay sắm sửa những vật dụng mới cho cả gia đình. Căn lều của anh chị cũng không đủ chỗ để đặt một cành đào trong ngày Tết. Đại gia đình chỉ mong sao có đủ miếng ăn, có được chiếc bánh chưng, cây giò trong ngày Tết là ấm cúng lắm rồi. Đôi khi, những ước mong thật giản đơn như vậy nhưng lại khó vô cùng đối với gia đình anh Năm – chị Hải.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 12


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 13


Hai cháu nhỏ – con anh Năm – bắt cá lo cho bữa ăn của gia đình


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 14


Tuy khó khăn, nhưng vì thương các con nên đến Tết, vợ chồng anh Năm lại cố gắng chạy vạy để có nồi bánh chưng tự gói, rồi thêm nồi thịt để cho các con vui Tết. “Cuối năm gia đình lại cố gắng làm lụng, để ra ít tiền sắm gạo nếp để gói bánh cho các cháu ăn Tết. Năm nào đỡ hơn thì có thêm thịt cá, cũng cố gắng để các cháu không thấy tủi thân khi Tết về”, chị Hải nghẹn ngào nói. Còn về quần áo đón Tết của các con, anh chị cố gắng lo được cho các cháu nhỏ, còn những đứa lớn hiểu được hoàn cảnh gia đình nên cũng không đòi hỏi gì về điều đó.


Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội 15


Năm nay, gia đình anh Năm – chị Hải gói nhiều bánh chưng hơn năm ngoái, sắm thêm cả giò, thịt cá để lo Tết cho các con. Gia đình 14 người con vẫn ước mong một cái Tết đủ đầy giữa bộn bề khó khăn của cuộc sống.


(Trí Thức Trẻ)



Tết nghèo của người phụ nữ 43 tuổi, sinh 14 con giữa Hà Nội

Saturday, September 7, 2013

Phận đời cơ cực sau những "xe" hàng ăn đêm

Tầm 4h chiều là chị Hà Thị Thu, 39 tuổi, quê Thái Bình, lại tất tưởi rời nhà trọ ở khu vực xã Mỹ Đình, huyện từ Liêm, đẩy xe hàng ra phố để mưu sinh thâu đêm.



Cơ cực hàng rong. (Ảnh minh họa)

Cơ cực hàng rong. (Ảnh minh họa)


Công việc của chị Thu là bán xôi, ngô xào, bánh mỳ, sắn… Ở khu xóm trọ cùng chị Thu cũng có vài chục người đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau, và họ cũng chọn công việc mưu sinh đêm bên những chiếc xe đẩy bán hàng ăn. Một đêm đi đẩy cùng họ, mới thấy muôn nẻo mưu sinh cơ cực thế nào…


Đông đúc xe đẩy


Các đường phố Hà Nội về đêm nhan nhản các xe đẩy của những người mưu sinh bán hàng quà bánh, đồ ăn. Xe được thiết kế na ná giống nhau cho thuận tiện trong công việc đặc trưng của họ. Một xe đẩy của người bán hàng thực chất là một quầy hàng di động khi bên dưới của ngăn chứa hàng thường chứa đựng cà hàng hóa, cả bếp lò than, bếp gas để đun nấu làm ấm nóng hàng hóa.


Phần phía sau của xe được giữ nguyên bản là của chiếc xe đạp, còn phần phía trước cải tiến, khi được lắp gắn bằng một thùng đựng hàng, phía dưới có thêm hai bánh xe để cho khi di chuyển vẫn vững chãi.


Với kiểu xe đẩy này người bán hàng có thể mang hàng hóa đi bán xa cả dăm, bảy km mà vẫn tiện lợi. Còn có một loại xe đẩy cồng kềnh hơn, được thiết kế phía trước là một khoang đựng hàng có khung kính chắn khá lớn. Loại xe này chủ hàng chỉ có thể đẩy bằng tay, vì thế mà nó chỉ hợp cho những người đứng bán cố định ở một địa điểm, vì đẩy đi đẩy lại chậm chạp lại bất tiện.


Dẫu có thiết kế gọn nhẹ đến đâu thì việc nó xuất hiện vào thời điểm ban ngày là không thể chấp nhận được khi đường phố lúc nào cũng trong tình trạng quá tải người xe, vì lẽ đó mà những người mưu sinh bằng nghề này đã chọn thời khắc ban đêm, khi mà đường phố thưa vắng để bán hàng. Hầu như ở trục phố chính nào ở Hà Nội về đêm cũng có nhiều xe đẩy sáng đèn bán hàng quà bánh, hàng ăn như: ngô luộc, xôi, ngô xào, bánh mỳ trứng, bánh mỳ xúc xích…


Tại các đường cửa ngõ ra vào thành phố, số lượng xe đẩy đứng chờ bán hàng đông hơn nhiều. Ví như sát đầu Cầu Giấy, đêm nào cũng có thường trực gần chục hàng xe đẩy. Nhiều hàng chỉ thắp bóng đèn lên cho khách nhận biết là mình bán hàng ăn là gì. Một số xe đẩy trang bị loa kêu oang oang: Xôi nóng, bánh mỳ đê…, để khách qua đường từ xa đã nhận thấy.


Dọc đường Cầu Giấy, Xuân Thủy dài chưa tới 3 km, có rải rác vài chục chiếc xe đẩy khác đứng nép bên đường, trên vỉa hè để đợi khách. Xuống tới khu vực gần cầu vượt gần trường Đại Học Quốc Gia, đêm nào cũng có khoảng gần 20 chiếc “đóng đô”. Nhiều hôm trời đã tang tảng sáng, người đi chợ bán rau, xe buýt chuẩn bị hoạt động vẫn còn những chiếc xe đẩy cố nán lại để bán nốt số hàng.


Ở những địa điểm như đường Giải Phóng, đường Nguyễn Văn Cừ, đường Lê Văn Lương, khu vực đầu cầu Thanh Trì, Cầu Vĩnh Tuy…, cũng đông xe đẩy bám trụ trong đêm để mưu sinh.


Vất vả mưu sinh


Trong lúc hầu hết người dân đang say ngủ thì những người bán xe đẩy đêm đang nhọc nhằn mưu sinh, nhiều khi, họ thức gần như trọn đêm. Chị Nguyễn Thị Tám, 42 tuổi, quê Nam Định, hiện thuê nhà trọ tại xã Mỹ Đình, Từ Liêm, hơn 5 năm đẩy xe bán hàng ăn đêm, kể:


“Một ngày đi bán hàng của tụi tôi thường bắt đầu khoảng 4 giờ chiều. Ra khỏi nhà trọ là đạp xe đi, và lúc vào phố thì chỗ nào bán được hàng, như cổng trường học, cổng bệnh biện, các khu dân cư đông đúc là đẩy xe đến. Hàng của tôi bán chỉ là bánh mỳ và xôi nên cũng nhẹ nhàng, đơn giản, chứ những người bán ngô luộc, ngô xào… thì lỉnh kỉnh hơn nhiều. Bán đến 9-10h đêm là đạp xe đẩy về các con đường cửa ngõ để bán nốt hàng. Lúc còn ít hàng thì cứ liệu độ mà vừa bán vừa đi về gần khu trọ”.


Như vậy, trung bình một ca lao động của họ khoảng 10-12 tiếng đồng hồ. Những hôm ế ẩm thì thời gian lao động sẽ dài thêm.


Anh Lê Văn Hà, 37 tuổi, quê Hưng Yên, mưu sinh bằng nghề xe đẩy đã 3 năm, hiện thuê trọ tại Quan Hoa, Cầu Giấy, cho biết, công việc của những người bán hàng theo xe đẩy vất vả không kể xiết. Đi bán hàng cả chiều, và gần hết đêm, về nhà trọ họ chỉ ngủ vội vài tiếng buổi đồng hồ buổi sáng rồi dậy đi mua hàng, làm hàng.


“Tôi bán ngô luộc, mặc dù ngô người ta sẽ mang tới chợ gần nhà nhưng vẫn phải dậy vào khoảng 9 giờ để ra chợ lấy mang về. Rồi thì đi mua than, mua bao gói đựng…, lo cơm nước trưa xong chỉ tranh thủ ngủ cỡ 1 tiếng là phải dậy lo sửa soạn luộc ngô, sửa soạn xe, đồ nghề để… lên đường! Nói chung là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi vì thiếu ngủ, thiếu nghỉ ngơi. Nhiều hôm mệt, cảm giác muốn ốm nhưng vẫn cố mà đi bán hàng vì đời sống khó khăn quá nên không cho phép mình nghỉ ngơi…”.


Chị Trần Thị Thủy, một người bán xôi kèm ruốc, lạp xưởng, xúc xích trên xe đẩy kể rằng, cách đây 3 năm mỗi buổi chị còn bán được chục kg gạo xôi, lãi khoảng 300 ngàn đồng, nhưng vài năm trở lại đây mỗi buổi chỉ bán 5kg gạo. Có hôm bán đến 2-3 giờ sáng mà xôi còn ế vẫn nhiều, lại không nán bán nốt vì không bán hết thì chẳng có lãi.


Với cách nghĩ “làm giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành phố”, dù biết thực tế rất khó khăn, cơ cực nhưng nhiều người ở nông thôn vẫn ra thành phố mưu sinh. Họ dốc sức kiếm tiền, tích cóp để gửi về quê cải thiện cuộc sống gia đình…


(Pháp luật Việt Nam)



Phận đời cơ cực sau những "xe" hàng ăn đêm

Friday, September 6, 2013

Chuyên gia kinh tế phản pháo vụ "quán cơm 2.000 đồng"

Một số lập luận cho rằng quán cơm 2.000 đồng ở TP HCM sẽ cạnh tranh với kinh doanh, khiến nhiều nhân công mất việc, làm hư người nghèo … trong một bài viết đăng tải trên mạng gần đây đã khiến nhiều chuyên gia kinh tế phẫn nộ.



Một quán cơm dành riêng cho học sinh, sinh viên và những người nghèo khó trên địa bàn TPHCM chỉ với một mức giá 2000 đồng một phần với đầy đủ cá, thịt, rau, canh và có cả trái cây tráng miệng. Quán cơm đã thu hút hàng trăm người đến ăn mỗi ngày, trong đó khách hàng chủ yếu là trẻ em, lao động nghèo và sinh viên.


Gần đây xuất hiện một số bài viết nêu “góc nhìn” trái chiều, cho rằng nếu quán 2.000 đồng mở cạnh một hàng cơm bất kì, chủ quán cơm bán 20.000 đồng/suất phải đổi nghề, do không thể cạnh tranh lại. Bởi lẽ, cùng một suất cơm với đầy đủ thức ăn mà giá tiền lại chênh nhau 10 lần thì đương nhiên khách chọn quán cơm có giá 2.000 đồng. Nếu một quán cơm 2.000 đồng được mở, đồng nghĩa với một số quán cơm quán cơm bình thường khác phải đóng cửa, kéo theo hàng loạt lao động mất việc.


“Một sự cạnh tranh bất bình đẳng liệu có công bằng cho họ? Họ cũng đóng thuế như bao doanh nghiệp, nhưng ai sẽ bảo vệ họ cú bán phá giá tuyệt đối gây ra bởi hàng cơm 2 nghìn bên cạnh?” trích bài viết trên một trang mạng.


Bài viết này cũng cho rằng: Những kẻ hưởng lợi trước tiên từ cơm 2 nghìn là những kẻ chăn thầu ăn mày, giúp chúng đã giàu lại càng giàu và đặt câu hỏi “có nhiều quán 2 nghìn liệu có hay?”. Thậm chí còn nêu vấn đề “con cá và cần câu” và cho rằng: quán cơm 2 nghìn chính là con cá, nó không giúp được vào trọng tâm của vấn đề.


chuyen-gia-kinh-te-phan-phao-vu-quan-com-2-000-dong1


Đã nhiều chuyên gia kinh tế phản ứng trước bài viết này. Họ cho rằng, những bài viết mang danh kinh tế học, chẳng đem lại điều gì tốt đẹp cho cuộc sống.


Trên trang mạng cá nhân, chuyên gia kinh tế Vũ Hoàng Linh cho rằng: Ngay khái niệm giữa cần câu và con cá cũng không phải lúc nào cũng dễ phân biệt. Cung cấp bữa ăn đủ dinh dưỡng để cho người ta có thể tái sản xuất cũng có thể lý luận như là cung cấp cần câu và cơ hội làm việc. Trái lại những thứ tưởng như là cần câu cũng có thể là những thứ ngớ ngẩn và vô ích không hơn gì những con cá gỗ, ví dụ dạy những nghề nghiệp không có ích…


“Riêng cái ý tưởng rằng từ thiện sẽ cạnh tranh với kinh doanh cùng với mối lo rằng sẽ có quá nhiều người làm từ thiện đã quá là buồn cười rồi, chứng tỏ tác giả chắc vừa mới lấy xong mấy lớp kinh tế học.


Quỹ từ thiện chưa bao giờ đủ lớn và nhiều để có thể thực sự tạo ra market distortions. Còn các quỹ từ thiện thật sự lớn như quỹ Bill Gates chẳng hạn thì nói chung sẽ vận hành như một doanh nghiệp lớn, chú trọng hiệu quả và điều đó cũng sẽ không tạo ra distortions (làm méo thị trường – PV) gì”, ông Vũ Hoàng Linh viết.


chuyen-gia-kinh-te-phan-phao-vu-quan-com-2-000-dong2


Nhà báo Nguyễn Vạn Phú cũng cho rằng đây là một góc nhìn nguy hiểm.


“Nó nguy hiểm ở chỗ, sẽ có người do tin tức lan tỏa về các quán ăn từ thiện 2.000 đồng từng muốn làm một điều gì đó, chung một tay cho nỗ lực này nhưng vì nhiều lý do chưa làm gì được, nay đọc xong bài những bài viết trên bèn bật lên tiếng chà – thế à và đánh mất luôn ý hướng thiện vừa mới chớm nở. Có lẽ ít người bị tác động như thế nhưng dù chỉ một người cũng là gây tác hại bằng ngòi bút.


Rất dễ phẫn nộ khi nghe người ta nhân danh kinh tế học, đưa ra những lập luận phi lý như thế. Người viết có biết gì về tương quan quy mô cung cầu mà dám nói như thế? Một vài quán cơm 2.000 đồng ở một thành phố 10 triệu dân sẽ tác động dữ dội lên hàng chục ngàn các quán cơm bình dân khác đến thế sao?”, ông Phú phân tích trên trang mạng cá nhân.


Nói về lập luận “Hẳn chúng ta đều đã nghe câu: hãy cho kẻ khốn khó cần câu, thay vì con cá? Quán cơm 2 nghìn chính là con cá, nó không giúp được vào trọng tâm của vấn đề” trong bài viết trái chiều, ông Phú cho rằng, nghe qua thì dễ bị thuyết phục nhưng thử hỏi chênh lệch giữa 2.000 đồng và 14.000 đồng (giá trị thật của bữa ăn) có thể gom lại mua được cái cần câu gì (cần câu theo nghĩa đen có mua nổi không)? Tại sao cứ bám vào những cliché con cá cần câu mà không chịu hiểu bữa cơm 2.000 đó chính là cần cần, để những người ăn dùng nó biến thành sức lao động, cày bừa tiếp tục nuôi sống gia đình họ? Nghĩ được như thế thì mới thấy chính những quán cơm từ thiện đang trao cho họ những chiếc cần câu sử dụng trong ngày đó thôi.”


Nhà báo Vạn Phú cũng cho rằng lập luận “quán cơm 2.000 sẽ khuyến khích di cư vào thành phố” quá xuẩn ngốc. Giá trị xã hội của phần cơm không chỉ 2.000 đồng, nó có sức lay động lòng người, khích thích thiện tâm sẵn có ở mọi người, nó góp một phần rất lớn vào “vốn xã hội” mà có lẽ tác giả cũng từng được học qua.


Một số ý kiến khác cũng khẳng định: Suất cơm hai 2000 đồng ấy chính là phẩm giá của người nghèo được trân trọng, giử gìn. Họ mua chứ không xin, và những người có điều kiện ăn ở quán ăn bình thường sẽ không vào đó để ăn. Vì nếu thế, tức là họ ăn vào phần của người cần hơn họ thì họ mới chính là người đánh mất phẩm giá.


(Người Đưa Tin)



Chuyên gia kinh tế phản pháo vụ "quán cơm 2.000 đồng"

Wednesday, August 28, 2013

"Cho thầy mượn con mấy hôm thôi nhé!"

Năm học mới sắp đến, các thầy cô chia nhau đến tận nhà vận động học sinh tới trường. Nhưng nhiều khi gặp phụ huynh rồi cũng không hẳn đã khả quan. Họ nói: Nhà neo người lắm, chúng tôi còn đi làm nương, cháu đi học thì không có người đi chăn trâu, không có ai trông con. Nếu thầy cô nói khó quá thì họ nói: “Cho thầy giáo mượn con mấy hôm thôi nhé”.



Học sinh Trường Tiểu học Sùng Đô

Học sinh Trường Tiểu học Sùng Đô


Giáo viên nài xin cho trẻ tới trường


Chị Hoàng Thị Thuận – Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Sùng Đô – ngôi trường nằm trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn – Yên Bái miên man trong câu chuyện kể với tôi về công việc quen thuộc của chị và các thầy cô giáo mỗi đầu năm học mới.


Tháng 7, 8 trời mưa nhiều, là mùa của người vùng cao thu hoạch lúa, ngô, cũng là lúc giáo viên các trường phải lên trường chiêu sinh. Sau hơn một tháng nghỉ hè, đường vùng cao bị mưa lũ xói mòn, đường sống trâu, những chỗ trũng dòng nước chảy xoáy xuống tạo thành vũng, xe máy đi qua chắc chắn bị quệt gầm, sỏi đá to không trôi theo nước đứng chỏng trơ giữa đường tranh lối đi của xe máy. Chuyện đổ xe, ngã xe của người vùng cao là thường xuyên. Đi một đoạn là có thể gặp những mảnh xi nhan xe win 100 vỡ liểng xiểng trên mặt đường.


Mùa mưa, theo kinh nghiệm của giáo viên vùng cao, khi lên trường mỗi giáo viên phải mang theo 1 mảnh áo mưa, mang theo quần cộc để khi đi qua suối nước lũ. Muốn không bị ướt quần áo thì nên mặc quần cộc để lội qua suối, lên đến trường rồi hãy thay quần dài. Việc khiêng xe qua suối thì nhờ giáo viên nam. Nếu nước lũ ngập nửa xe máy trở lên thì thuê dân địa phương khiêng xe, mỗi suối khoảng 60 nghìn đồng cho 4 người khiêng, cả thảy 2 suối mỗi chủ xe phải trả 120.000 đồng.


Lên được đến trường đã là cả một quá trình gian nan, rồi còn phải chia nhóm để lên tận bản, đến tận nhà để gọi học sinh, mặc dù trước đó đã nhờ các đồng chí trưởng các thôn bản nhắc học sinh đến trường. Trên đường đi vắng tanh, chẳng gặp một ai, đôi khi cũng gặp đúng học sinh của mình nhưng các em đang ngồi trên lưng trâu. Nhìn từ xa, các em đã chào thầy cô, khi đến gần hỏi vì sao không đến trường thì các em trả lời: “Em còn đi trăn trâu đã, ngày mai em mới đi học”, hoặc “Em còn phải trông em cho bố mẹ đi thu ngô đã, mai em mới đi học”.


Việc lao động dọn vệ sinh quang cảnh sư phạm đều do các thầy cô chia nhau ra để làm. Cũng không hẳn là không có học sinh nhưng với tỷ lệ 3 cô 2 trò (chỉ được vài em nhà gần trường và con em cán bộ xã là có mặt, còn lại thì vẫn vắng tanh). Phòng Giáo dục huyện Văn Chấn cũng đặc biệt quan tâm tới các trường vùng đặc biệt khó khăn, đã cử cán bộ chuyên viên cùng đến các trường như Sùng Đô, An Lương, Nậm Mười… để cùng đi tuyển sinh bán trú, cùng gọi học sinh ra lớp với nhà trường. Muốn gặp được phụ huynh học sinh thì phải chờ đến tối, như vậy cũng đồng nghĩa với việc các thầy cô phải ở lại trường.


Song gặp phụ huynh rồi cũng chẳng mấy khả quan, vì họ nói: Nhà neo người lắm, chúng tôi còn đi làm nương, cháu đi học thì không có người đi chăn trâu, không có ai trông con. Nếu thầy cô nói khó quá thì họ nói: “Cho thầy giáo mượn con mấy hôm thôi nhé”.


Dọa không cho con đi học tiếp


Cô Hoàng Thị Thuận và học sinh

Cô Hoàng Thị Thuận và học sinh


Nhà trường yêu cầu các giáo viên chủ nhiệm khi tuyển sinh là thu luôn số hộ khẩu của học sinh để đầu năm học làm chế độ “Chi phí học tập” cho học sinh, song nhiều phụ huynh vẫn bận mải làm nương, hết hạn nộp họ cũng mặc kệ. Thế nhưng, trong năm học nếu con không được tiền chế độ thì họ cứ đến trường để lấy tiền chế độ, còn dọa, sẽ không cho con đi học nữa vì không được tiền chi phí học tập.


TH&THCS Sùng Đô là trường có hai cấp học, phòng học ở tất cả 5 điểm trường đều là phòng bán kiên cố và phòng học tạm, rất chật chội cho học sinh THCS, bàn ghế thì không đúng quy định, học sinh lớp 1 đến lớp 9 đều ngồi chung một cỡ bàn ghế và đều phải học hai ca. Các em học sinh từ lớp 3 trở lên thì đều phải về trung tâm học vì thiếu phòng học, do vậy nhà trường phải bố trí ở bán trú cho học sinh.


Hai thôn bản xa trung tâm nhất cách điểm trường chính khoảng 20 – 21 km. Khi đi học các em thường đi tắt qua đường rừng, với sức đi nhanh và thông thạo của học sinh thì mất chẵn một ngày đường, nếu người không quen đi rừng thì không thể đi một ngày đến trường được. Còn nếu đi xe máy cũng vẫn phải gửi xe rồi đi bộ khoảng 3 – 4 giờ đồng hồ mới tới được bản.


Tháng 7 vừa rồi, nhà trường phải lên trực hàng tuần trời để chờ học sinh nộp hồ sơ xin ở bán trú (thứ hai đến trường, thứ 7 trở về nhà ). Phụ huynh học sinh đến nộp hồ sơ một cách lẻ tẻ, hôm sau phải đi duyệt rồi mà vẫn phải chờ phụ huynh học sinh. Ông chủ tịch xã vừa sốt ruột, vừa bực mình, gọi điện liên tục nhờ người nhắc phụ huynh giúp, đến nửa chiều có thêm 3 phụ huynh đến. Họ mang sổ hộ khẩu chưa photo đến, nếu xuống thị xã để photo phải đi khoảng 36 km, mà phụ huynh lại đi bộ xuống trường. Cả hội đồng xét bán trú vừa mệt mỏi, vừa bực mình, phụ huynh thì mồ hôi nhễ nhại.


May sao thầy Tuyển, Hiệu trưởng nghĩ ra cách lấy máy điện thoại chụp ảnh số hộ khẩu rồi tháo thẻ nhớ đưa vào máy tính rồi in ra, mặc dù đen nhẻm nhưng có còn hơn không, vậy là đã giúp thêm cho một học sinh có chế độ, còn ảnh thì nhà trường đã phải cử một thầy giáo mang máy ảnh lên tận hai bản xa nhất ở tại bản 3 ngày để chụp ảnh cho học sinh.


Năm nào cũng vậy, bước vào năm học mới những trường như trường chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, việc nhà trường và Phòng Giáo dục lo nhất là tỷ lệ chuyên cần và chất lượng giáo dục. Học sinh không đi học đều thì làm sao đảm bảo chất lượng giáo dục? Trong khi hoàn cảnh gia đình đại đa số phụ huynh học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, nhà dột nát tứ bề, mùa giáp hạt trong nhà chẳng có hạt gạo, các em từ lớp 4, 5 trở lên đều có thể lao động giúp bố mẹ. Cho dù các thầy cô có lên tận nương để gọi học sinh, nếu có gặp được thì học sinh vẫn nói, mấy hôm nữa em sẽ đi học. Vậy là lại cười trừ, động viên học sinh rồi ra về.


(BGD&TĐ)



"Cho thầy mượn con mấy hôm thôi nhé!"

Wednesday, August 21, 2013

"Bị chuột chạy vào… bụng" rồi lần lượt sinh 4 đứa con

Sống “đầu đường xó chợ” làm mất mỹ quan thành phố, tạo ra cảm giác một Hà Nội “lầm than”, nhưng bản thân người cô gia cư rất tự tin vào “nghề” của họ.



Lại nhớ câu chuyện được cán bộ coi là “hết sức tiêu biểu” ở trung tâm. Chị tên là Trần Thị Duyên (tức Mơ), SN 1964, ở thôn Mơ Uông, xã Lệ B., huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, dân tộc Sán Chỉ. 9 năm trước, bấy giờ đang 40 tuổi, chị cùng 4 đứa con trứng gà trứng vịt đen nhẻm bùn đất được “thu gom” vào đây, sau một đợt truy quét những người lang thang, ăn xin ở vỉa hè, làm ảnh hưởng đến mỹ quan và trật tự đô thị Hà Nội. Người ta hết sức ngạc nhiên, thấy chị mang theo 4 đứa con gồm: Trần Thị Thuật, 14 tuổi; Trần Văn Tường, 13 tuổi; rồi Trần Thị Luyến, 10 tuổi; Trần Thị Mùi, 3 tuổi.


Như con gà mẹ 40 tuổi, chị Mơ dắt theo một đàn gà con lơ ngơ, non tơ, lít nhít, đói khát. Ảnh chụp hồi ấy, gần 10 năm trước, để làm hồ sơ “nhập trung tâm”, thì gương mặt chị Mơ không phải là không duyên dáng, có chút nhan sắc, với tóc dài đen nhánh, với khăn mũ len nâu của mùa đông năm 2004. Sơn nữ dân tộc Sán Chỉ mà.


Vỉa hè nơi 4 đứa con của chị Mơ lần lượt ra đời. (Ảnh minh họa)

Vỉa hè nơi 4 đứa con của chị Mơ lần lượt ra đời. (Ảnh minh họa)


Chị bảo, con của chị tất tật lấy họ mẹ (họ Trần), bố của chúng thì mỗi đứa một ông. Các “ông” ấy hầu hết chị không nhớ mặt, toàn gặp ngoài bến tàu bến xe, có khi ngoài công viên… Đám trẻ, giờ có một cháu đi làm, hai cháu học tại trường làng gần Trung tâm bảo trợ xã hội 4, cả hai đều đạt học sinh giỏi, xinh xẻo, chăm ngoan khiến đồng chí Bằng, giám đốc hết sức cảm kích. Mỗi đứa mang một gương mặt, một nguồn gen của những ông bố “bí ẩn” kia.


Trò chuyện với chúng tôi, với chúng tôi, với gương mặt tuổi già của một người cả đời bị cuộc sống lang thang đày đọa, răng gẫy lởm chởm, tóc còn vài cái lưa thưa, chị Mơ thở dài: “Nằm ở xó nào đấy, con chuột nó chạy vào… chỗ bụng dưới của mình, thế là đẻ thôi mà”. Mấy đứa đầu, chị còn tự cắt rốn, để ở nơi hoang vu tội nghiệp lắm. Hỏi lũ trẻ, chúng chỉ nhớ: Cháu sinh ra, biết nhớ biết nghĩ thì đã thấy mình ở vỉa hè rồi. Không có “bố” nào qua lại hết.


Chị Mơ đỡ lời con: “Họ đến đem “chuột chạy vào bụng mình” rồi họ đi, có khi đêm tối mình còn không nhìn rõ mặt người đàn ông ấy nữa cơ mà”.


Chị Phan Thị Bích Ngọc, phó giám đốc Trung tâm, người sâu sát quản lý chăm sóc chị Mơ suốt bao năm, chỉ còn biết thở dài: Các cháu nhỏ nó kể, nó còn mấy đứa em nữa cơ. Lúc bé nó vẫn nhìn thấy, giờ đi đâu không rõ. Chắc những đứa trẻ đó đã được “chuyển đi”. Vậy là số lần sinh nở “vỉa hè bến xe” của người đàn bà tội nghiệp với các “giấc mơ” chuột chạy vào … bụng dưới này không dừng lại ở con số 4. Hy vọng, các cháu sẽ gặp cái kịch bản bớt đau khổ hơn, ấy là đang được làm con nuôi, được chăm sóc ở một gia đình tử tế nào khác.


Để độc giả có một cái nhìn đầy đủ và đa chiều hơn về thảm trạng người vô gia cư ở Hà Nội, nhóm phóng viên đã có cuộc trò chuyện chính thức với ông Lê Tuấn Hữu – giám đốc Sở Lao Động – Thương binh và xã hội Thành phố Hà Nội.


Nhiều người quyết tâm “vô gia cư” ở Hà Nội


- Thưa ông riêng nhóm từ thiện mang tên “Ấm” mà chúng tôi đi cùng, mỗi lượt đi đêm thăm hỏi người vô gia cư, đều đặn họ đã tặng 65 suất quà, mà số lượng người được giúp đỡ còn rất nhiều. Riêng số người xuất thân từ “vô gia cư” mà một trung tâm của quý Sở (đóng tại Ba Vì) đang chăm sóc đã là 346. Xin được hỏi, thời gian vừa qua, các đội trật tự xã hội (TTXH) của Hà Nội có đưa được nhiều người lang thang lên trung tâm để chăm sóc giúp đỡ không?


-Ông Lê Tuấn Hữu: Đối tượng của đội TTXH chỉ có người lang thang ăn xin thôi, tức là đội TTXH chỉ được phép thu gom những người này. Còn những đối tượng nằm ngủ ở bến tàu bến xe, chúng tôi cũng biết, nhưng họ không có biểu hiện gì là lang thang cả, họ chỉ ngồi đấy, như bà già ở Bách hóa Thanh Xuân (mà báo chí cũng viết nhiều – PV), bà ấy ngồi với cái cân để người ta đi qua cân thử trọng lượng của mình, bao nhiêu năm mà quận cũng… không biết xử lý ra sao. Vì bà ấy không làm gì để mình phải “thu gom” cả. Không tâm thần, không sai, mà chỉ ngồi ai đến bước lên cân thì cho bà tiền thôi. Rất nhiều những trường hợp như thế, không phải chúng tôi không biết, mà là không biết phải làm sao. Còn thì bảo là nếu họ ngồi ở chỗ nào gây mất cảnh quan đô thị, như Hồ Gươm chẳng hạn, thì lại là nhiệm vụ của TTXH quận Hoàn Kiếm, họ sẽ xử lý.


Những đứa trẻ coi vỉa hè là nhà của mình.

Những đứa trẻ coi vỉa hè là nhà của mình.


- Tóm lại thì hiện nay, ai lực lượng nào sẽ quản lý các đối tượng lang thang vô gia cư với cuộc sống nhếch nhác, vạ vật, lấm láp, bệnh tật cảu một “Hà Nội lầm than” như thế?


- Ông Lê Tuấn Hữu: Trên mạng có một nhóm thanh niên từ thiện với người vô gia cư, chúng tôi rất ủng hộ và trân trọng, vì sự chăm sóc này là cần thiết. Nhưng tại làm sao mà chúng ta không gom được những đối tượng này là như thế, vì chúng ta không đủ căn cứ để gom. Nhưng nếu là phường gom rồi rồi làm hồ sơ gửi lên thì chúng tôi nhận ngay. “Tuyên truyền” vận động lần 1, lần 2 không được thì thu gom lại. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao ở xã, phường họ lại không làm việc đó? Nếu họ làm được, họ mời đội trật tự đến đưa người vô gia cư đi trung tâm, bất kể họ là người của địa phương nào cũng được, không cứ gì phải là người có hộ khẩu Hà Nội.


Khi thu gom họ xong, ban đầu chúng tôi đưa tất cả vào trung tâm 1 ở Đông Anh và trung tâm 2 ở Ứng Hòa. Họ được ở lại 1 tháng để cán bộ xác minh địa chỉ, quê quán ở đâu, sau đó báo người nhà đến nhận, đưa về. Sau 1 tháng không ai nhận thì chúng tôi chuyển lên Trung tâm bảo trợ xã hội 4 trên Bà Vì của Hà Nội. Tại đây, các cán bộ tiếp tục xác minh cho đến khi tìm được gia đình của người vô gia cư, còn không tìm được thì nuôi dưỡng ở đấy đến cuối đời. Chính sách thành phố là rõ ràng. Đối tượng cả ngành là thế nhưng trách nhiệm đầu tiên phải từ các đồng chí ở xã, phường.


Các đối tượng lang thang vô gia cư không vi phạm pháp luật mà chỉ làm mất cảnh quan đô thị và họ cứ vạ vật thế, khiến ta có cảm giác như thể xã hội này bỏ rơi họ. Nhưng bản thân họ, tôi không biết chắc như thế nào nhưng tôi thấy họ vẫn kiếm sống, vẫn sống được. Vận động họ về quê, họ không về đâu, họ bảo ở thành phố kiếm sống dễ hơn. Chúng tôi cũng đã phải tham mưu UBND thành phố ra văn bản hỗ trợ một số người vô gia cư có được áo ấm, rồi quà cáp trong dịp rét đậm, hại.


- Có phải vì muốn bám Hà Nội để kiếm sống vỉa hè, gâm cầu, góc chợ, nên họ đã ra vào các trung tâm bảo trợ xã hội nhiều lần?


- Ông Lê Tuấn Hữu: Có một số trường hợp vào rồi lại ra rất nhiều lần. Họ viết giấy hứa hẹn không đi lang thang vật vạ nữa. Gia đình cam đoan đón về rồi. Nhưng lần sau vẫn như thế, vẫn “tái phạm”.


- Vậy thì chúng ta phải làm gì để bớt đi những thảm cảnh người vô gia cư sống quá khổ sở, bị lạm dụng, bị truyền bệnh do kẻ xấu?


- Ông Lê Tuấn Hữu: Việc đầu tiên là chính các địa phương phải có trách nhiệm với họ, tạo công ăn việc làm cho họ hồi hương. Bởi có đi đâu đi nữa thì sau này họ vẫn phải về quê hương, họ đi kiếm sống vài năm thì về. Đấy là mấu chốt từ gốc. Việc tiếp theo, đối với Hà Nội hay các thành phố lớn khác, cần có kế hoạch xử lý vấn đề hợp tình hợp lý. Có những người cả nhà ra Thủ đô, chúng tôi chỉ đạo trước hết đảm bảo an ninh trật tự, sức khỏe cho họ. Các cháu thì có quyền được chăm sóc học hành. Thực tế, các quận huyện đã tổ chức các lớp học tình thương lồng ghép cho trẻ em thuộc đối tượng này, khá hiệu quả.


- Xin chân thành cảm ơn!


(BTT&ĐS)



"Bị chuột chạy vào… bụng" rồi lần lượt sinh 4 đứa con

Monday, August 19, 2013

Khổ cực như đời người nghệ sĩ cải lương tuổi xế chiều

Bà con tiểu thương chợ Rạch Ông (quận 8) đã rất quen với hình ảnh hai người phụ nữ dáng vẻ hiền lành chậm chạp, hàng ngày vẫn đi bán vé số. Đó là hai chị em nghệ sĩ (NS) cải lương Trang Thanh Xuân, từng nổi tiếng vào thập niên 70 của thế kỷ trước…



Nghệ sĩ (NS) cải lương Trang Thanh Xuân nổi tiếng cùng thời với NS Thanh Nga.


Trong quyển album cũ của bà vẫn lưu giữ những mảnh báo đã ngả màu, với các tựa đề: Đào trẻ Trang Thanh Xuân được nhiều đoàn hát chú ý, Trang Thanh Xuân – Đào trẻ nhiều triển vọng, Trang Thanh Xuân sắp sửa thành minh tinh, …


Quá khứ huy hoàng của NS Trang Thanh Xuân chỉ còn trên những mảnh báo ố vàng

Quá khứ huy hoàng của NS Trang Thanh Xuân chỉ còn trên những mảnh báo ố vàng


Thật khó nhận ra cô đào Trang Thanh Xuân vang danh năm nào

Thật khó nhận ra cô đào Trang Thanh Xuân vang danh năm nào


Giờ đây, NS Trang Thanh Xuân cùng người em gái là NS Thanh Đào nương tựa nhau trong căn phòng 6m vuông vương mùi ẩm mốc. Hai chị em cùng nhau kiếm sống qua ngày và chống chọi với hàng chục căn bệnh của tuổi già: đau tim, thiếu máu não, đau khớp, cao huyết áp…


Thật ra, NS Trang Thanh Xuân đủ tiêu chuẩn để được vào Viện dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8) nhưng bà không nỡ rời xa em gái, cũng đi hát cải lương 7-8 năm nhưng không đủ tiêu chuẩn để được vào viện.


Ngoài ra, lão nghệ sĩ còn nỗi khổ tâm mà ngập ngừng mãi bà mới thổ lộ. Đó là con trai bị vướng vào vòng lao lý mà theo bà, bởi cái nghèo đưa đẩy nên con mình nhắm mắt sa chân. Người mẹ 60 tuổi nghẹn ngào: “Vào viện dưỡng lão rồi thì đâu có được đi bán vé số, lấy tiền đâu mà thăm nuôi nó”.


Dù bị đau khớp nhưng NS Trang Thanh Xuân phải bó gối để đi bán vé số mỗi ngày, tối đến thì nhặt ve chai. Trong căn nhà trọ ẩm thấp, bà căng những tấm nilon để tránh mưa dột xuống chỗ nằm

Dù bị đau khớp nhưng NS Trang Thanh Xuân phải bó gối để đi bán vé số mỗi ngày, tối đến thì nhặt ve chai. Trong căn nhà trọ ẩm thấp, bà căng những tấm nilon để tránh mưa dột xuống chỗ nằm


Trang Thanh Xuân chỉ là một trong số rất nhiều NS lâm vào cảnh nghèo túng, bệnh tật khi về già. Danh sách này còn dài lắm: NS Phượng Hải suy tim cấp cứu ở bệnh viện 115, NS Vũ Linh Vương bị tiểu đường cắt bỏ cả 2 chân đang cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy, NS Minh Hùng bệnh nặng, sức khỏe yếu, phải chạy thận ở BV Thống Nhất…


NS Vũ Minh Vương vừa qua cũng phải cấp cứu ở bệnh viện 115, nhờ báo chí kêu gọi đã có tiền điều trị và xuất viện. Nhưng đây chỉ là trường hợp hiếm hoi, may mắn do NS Vũ Minh Vương có nhiều công trạng với nghề, thường tham gia biểu diễn từ thiện nên được mọi người yêu mến, giúp đỡ.


Còn các NS khác vẫn vật lộn với nghèo đói, bệnh tật. Bởi vì trong giới cải lương, những NS có thể tự mình làm giàu, có nhà lầu xe hơi chỉ đếm được trên đầu ngón tay, một số khác sống được nhờ được bảo trợ… số đông còn lại thì đa phần nghèo. Những NS gạo cội như Thành Lộc, Hữu Châu, Bạch Long… chuyển qua kịch nói để “cầm hơi”. Có được một căn nhà riêng như NSƯT Thành Lộc cũng là ước mơ của nhiều người, bởi đa phần các NS đều đang đi thuê nhà.


Nhiều NS và nhân viên trong ngành cải lương đang chống chọi với bệnh tiểu đường ở giai đoạn cuối, bị hoại tử chân tay: 1. NS Vũ Minh Vương, 2. NS Minh Hùng, 3. Ngoại vụ Văn Đẩu, 4. NS Vũ Linh Vương...

Nhiều NS và nhân viên trong ngành cải lương đang chống chọi với bệnh tiểu đường ở giai đoạn cuối, bị hoại tử chân tay: 1. NS Vũ Minh Vương, 2. NS Minh Hùng, 3. Ngoại vụ Văn Đẩu, 4. NS Vũ Linh Vương…


Bà Nguyễn Hồng Dung, Phó chủ tịch Hội Sân khấu TPHCM đồng thời là Trưởng ban Ái hữu nghệ sĩ TPHCM cho biết trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế, nhiều NS lâm vào khó khăn, phải cầm cự qua ngày.


Nhưng theo bà Hồng Dung: “Nói đi thì phải nói lại, bản thân các nghệ sĩ thời gian trước kia có cuộc sống phóng túng, sa đà vào cờ bạc. Tôi không nói tất cả NS đều như vậy nhưng phải thừa nhận là luôn tồn tại một bộ phận NS có lối sống không lành mạnh. Gần đây nhất xảy ra việc NS Kim Tử Long bị bắt tại sới bạc vào tháng 6 vừa qua. Kết cục là khi qua thời hoàng kim, họ rơi vào cảnh tán gia bại sản”.


Theo bà Hồng Dung, để tránh rơi vào viễn cảnh bần cùng khi rời khỏi sân khấu, các nghệ sĩ có nhiều lựa chọn: học tiếp để trở thành đạo diễn, soạn giả, nhạc công, hay mở ra kinh doanh… quan trọng là họ có quyết tâm để thay đổi cuộc đời mình hay không.


Còn đối với các lão nghệ sĩ neo đơn hiện nay, Hội sân khấu vẫn có những hình thức tương trợ thông qua Ban ái hữu. Ban trợ cấp cho 250 hội viên mỗi tháng 10 kg gạo và 200.000 đồng. Duy trì trại dưỡng lão nghệ sĩ với 22 nghệ sĩ có công lớn với ngành. Chăm sóc một chùa nghệ sĩ và một nghĩa trang nghệ sĩ. “10kg gạo mỗi tháng thì chưa đủ sống đâu nhưng khả năng hiện tại chỉ có thể hỗ trợ như vậy” – bà Hồng Dung cho biết.


Ban Ái hữu nghệ sĩ TPHCM là tổ chức xã hội từ thiện, ra đời tại Sài Gòn năm 1946, quy tụ giới sân khấu và các nhà báo, nhà phê bình sân khấu, do các nghệ sĩ Trần Hữu Trang, Phùng Há, Năm Châu… sáng lập.


Năm 1981, Ban ái hữu trở thành một ban của Hội Sân khấu TPHCM. Ban là nơi sinh hoạt của anh chị em làm nghề không kể tuổi tác, hội viên hay không. Tuy nhiên Ban ái hữu chỉ có thể kết nạp hội viên tại TPHCM do điều kiện hoạt động còn hạn chế.


Các nghệ sĩ cải lương gặp khó khăn có thể liên lạc với Ban ái hữu qua số điện thoại: (08) 3836 8853.


(BDT)



Khổ cực như đời người nghệ sĩ cải lương tuổi xế chiều