Showing posts with label giáo dục. Show all posts
Showing posts with label giáo dục. Show all posts

Wednesday, February 26, 2014

Sửng sốt trước kết quả học tập của trẻ em Việt Nam

(Kênh 13) – Bộ GD-ĐT vừa công bố kết quả khảo sát PASEC 10 với những số liệu rất đáng bất ngờ và có thể thấy rằng, trẻ em bậc tiểu học ở Việt Nam… rất giỏi.


PASEC là viết tắt của chương trình phân tích các hệ thống giáo dục của Hội nghị các Bộ trưởng giáo dục các nước sử dụng tiếng Pháp (Programme d’analyse des systèmes éducatifs de la CONFEMEN).


PASEC 10 tiến hành khảo sát trên 180 trường (được chọn lựa ngẫu nhiên) thuộc 55 tỉnh, thành phố Việt Nam. Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 2, 5 và hiệu trưởng bậc tiểu học.


Thời gian khảo sát bắt đầu từ 6-10/12/2011 với 5.385 học sinh tham gia.


Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, kết quả lần này là “đang tự soi chúng ta”. Học sinh Việt Nam đã được cả PISA và PASEC đánh giá là có trình độ khá cao nhưng vẫn đang gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn.


Dưới đây là một số kết quả đáng chú ý từ khảo sát.


Lớp 2: Kiểm tra dễ


Theo kết quả được công bố, ở lớp 2, các bài kiểm tra là quá dễ đối với học sinh ở cả đầu năm và cuối năm. Trên thực tế, có hơn nửa số mục của bài kiểm tra đầu năm (đầu vào) đã được ít nhất 90% học sinh trả lời đúng.


Sửng sốt trước kết quả học tập của trẻ em Việt Nam


Khảo sát đầu vào đã được triển khai muộn (tháng 12) so với dự kiến (tháng 9), điều này giải thích tại sao thành tích của học sinh lại cao một cách không bình thường như vậy.


Về kiến thức và kỹ năng của học sinh: Tất cả học sinh Việt Nam, kể cả những học sinh yếu nhất, đều làm chủ được năng lực ở cấp độ thấp và cao được đo lường qua các bài kiểm tra môn Tiếng Việt và Toán.


Lớp 5: Học sinh… rất giỏi


Đối với học sinh lớp 5, các bài kiểm tra PASEC không cho phép đo lường sự tiến bộ về năng lực của 75% học sinh giỏi nhất bởi vì các em đã đạt được mức độ kết quả cao nhất ngay từ đợt khảo sát đầu năm học ở môn Tiếng Việt. Con số này ở môn Toán là 25%.


Trong môn tiếng Việt, tất cả học sinh Việt Nam ở lớp 5 đã có được các kỹ năng ở cấp độ 1. Các em biết liên kết nhiều ý kiến trong một câu, tìm thông tin đặc biệt trong nhiều câu ngắn, nhận biết một thông tin và viết lại.


9,3% học sinh lớp 5 gặp khó khăn trong việc giải thích những thông tin trong một văn bản và/ hoặc phân tích và phát triển các ý kiến trong diễn đạt viết. Tuy nhiên những em này có khả năng đọc một văn bản để thực hiện các suy luận đơn giản hoặc kết hợp các thông tin tường minh (cấp độ 2).


90,7% học sinh lớp 5 đã có được các năng đo lường trong bài kiểm tra môn Tiếng Việt (cấp độ 3).


Đối với môn Toán, tất cả học sinh Việt Nam đã có được kỹ năng ở cấp độ 1. Các em biết xác định đơn vị đo lường phù hợp và hình học cơ bản (hình vuông, hình khối, hình chữ nhật), thực hiện một phép tính đơn giản với các số nguyên, áp dụng các dấu tính và các quy tắc tính toán, nhận biết các thuộc tính của hình học đơn giản (diện tích, góc, diện tích bề mặt), đọc giờ và vẽ một hình học đơn giản.


49,9% học sinh lớp 5 gặp khó khăn khi làm các bài tập đòi hỏi lập luận và trong khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống hàng ngày.


50,1% học sinh đã đạt được tất cả những năng lực được đo trong bài kiểm tra môn Toán (cấp độ 3).


Chăm làm việc nhà thì học giỏi hơn


Sửng sốt trước kết quả học tập của trẻ em Việt Nam


Việc phân tích chỉ ra rằng học sinh nữ có năng lực cao hơn học sinh nam ở cả lớp 2 và lớp 5 trong cả hai môn. Tuy nhiên học sinh nam và học sinh nữ có sự tiến bộ như nhau trong năm học, nhất là lớp 5.


Mức độ chênh lệch về thành tích giữa đầu cấp học và cuối cấp học trong môn Tếng Việt là lớn nghiêng về phía học sinh nữ, nhưng mức độ chênh lệch trong môn toán chỉ là một nửa nghiêng về phía học sinh nam.


Ở lớp 2 và lớp 5, những học sinh xuất thân từ các gia đình khá giả nhất có thành tích cao hơn trong môn Tiếng Việt và Toán so với học sinh xuất thân từ các gia đình nghèo nhất.


Những học sinh lớp 2 làm các công việc ngoài học tập ở nhà có thành tích cao hơn trong môn Tiếng Việt.


Ở lớp 2, người ta nhận thấy rằng những học sinh mà giáo viên có bằng cử nhân có thành tích cao hơn những học sinh mà giáo viên không có bằng cử nhân.


Ở lớp 5, trong cả hai môn học, học sinh của giáo viên có thâm niên thấp có kết quả học tập cao hơn học sinh của giáo viên có thâm niên cao. Ở lớp 2 không thấy mối liên hệ giữa hai yếu tố này.


Những học sinh lớp 2 có giáo viên được nhận thưởng có thành tích cao hơn các bạn trong môn Toán. Những học sinh lớp 5 mà giáo viên được hiệu trưởng hỗ trợ trong việc chuẩn bị bài giảng có thành tích ở môn Toán cao hơn các bạn khác.


Những học sinh có hiệu trưởng là nữ có thành tích tốt hơn các bạn khác trong môn Tiếng Việt ở lớp 2 và trong cả hai môn ở lớp 5.


PASEC là Chương trình phân tích hệ thống giáo dục của Hội nghị các Bộ trưởng giáo dục các nước sử dụng tiếng Pháp. Mục tiêu của Chương trình PASEC là nhận dạng các mô hình nhà trường có hiệu quả, ít tốn kém, bằng cách tiến hành các cuộc điều tra theo mẫu lựa chọn tại các trường, sau đó tiến hành so sánh trên phạm vi quốc gia và quốc tế…


Bản chất hoạt động của Chương trình PASEC đó là đánh giá chất lượng giáo dục quốc gia thông qua kết quả học tập lĩnh vực Toán và Tiếng Việt của học sinh lớp 2, lớp 5 ở hai giai đoạn: đầu năm học và cuối năm học…


Chương trình PASEC thành lập năm 1991 nhằm cung cấp thông tin về sự phát triển của các hệ thống giáo dục và các chính sách giáo dục kèm theo đó.


Trong 2 thập kỷ qua, đã có 35 cuộc đánh giá mang tầm quốc gia được tiến hành ở gần 20 nước tại châu phi, châu Á và Trung Đông, trong đó có Việt Nam.


TP



Sửng sốt trước kết quả học tập của trẻ em Việt Nam

Sunday, December 29, 2013

Khung cảnh cảm động ở lớp học thầy giáo viết bằng miệng

Hơn 3 năm qua nhiều người cảm phục tấm lòng của anh Phùng Văn Trường viết chữ bằng miệng dạy học sinh tiểu học miễn phi.


Hàng ngày, lớp học của anh Trường (34 tuổi) bắt đầu từ 16h khi các em học sinh tiểu học tan trường.

Hàng ngày, lớp học của anh Trường (34 tuổi) bắt đầu từ 16h khi các em học sinh tiểu học tan trường.


Cả lớp có khoảng 10 học sinh. Các em lớp 1 thì được rèn luyện tập viết, lớp 2, 3, 4 được luyện bài tập ở nhà.

Cả lớp có khoảng 10 học sinh. Các em lớp 1 thì được rèn luyện tập viết, lớp 2, 3, 4 được luyện bài tập ở nhà.


Thầy giáo Trường ở thôn Nhân Lý, xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ (Hà Nội) bị teo cơ bẩm sinh. Khi giảng bài, anh phải ngồi trên xe lăn, viết bằng miệng.

Thầy giáo Trường ở thôn Nhân Lý, xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ (Hà Nội) bị teo cơ bẩm sinh. Khi giảng bài, anh phải ngồi trên xe lăn, viết bằng miệng.


Dù viết bằng miệng nhưng nét chữ của thầy giáo Trường rất đẹp, được các học sinh noi gương.

Dù viết bằng miệng nhưng nét chữ của thầy giáo Trường rất đẹp, được các học sinh noi gương.


Khi học sinh không hiểu, anh Trường tận tình giải thích và hướng dẫn các em.

Khi học sinh không hiểu, anh Trường tận tình giải thích và hướng dẫn các em.


 Lớp học đặc biệt này có nhiều lứa tuổi nhưng rất trật tự và kỷ luật.

Lớp học đặc biệt này có nhiều lứa tuổi nhưng rất trật tự và kỷ luật.


Trần Anh Đức (6 tuổi) là một trong những học sinh nhỏ nhất của lớp học đang tập đọc...

Trần Anh Đức (6 tuổi) là một trong những học sinh nhỏ nhất của lớp học đang tập đọc…


Trong khi đó, các học sinh khác chăm chỉ tập viết, giải Toán.

Trong khi đó, các học sinh khác chăm chỉ tập viết, giải Toán.


Mỗi buổi học, anh thường xuyên phải viết và làm mẫu cho các em học sinh.

Mỗi buổi học, anh thường xuyên phải viết và làm mẫu cho các em học sinh.


Anh Trường cho biết hầu hết các em rèn luyện ở đây đều là học sinh giỏi toàn diện và nhiều em được thầy cô chủ nhiệm chọn đi thi vở sạch chữ đẹp.

Anh Trường cho biết hầu hết các em rèn luyện ở đây đều là học sinh giỏi toàn diện và nhiều em được thầy cô chủ nhiệm chọn đi thi vở sạch chữ đẹp.


Bữa cơm sinh hoạt ấm cúng tại gia đình riêng. Anh Trường mới lập gia đình được hai năm và đã có một con trai tên Trường Quảng (4 tháng tuổi).

Bữa cơm sinh hoạt ấm cúng tại gia đình riêng. Anh Trường mới lập gia đình được hai năm và đã có một con trai tên Trường Quảng (4 tháng tuổi).


Vợ chồng bà Năm vui mừng bên đứa con của anh Trường.

Vợ chồng bà Năm vui mừng bên đứa con của anh Trường.


(Trí Thức)



Khung cảnh cảm động ở lớp học thầy giáo viết bằng miệng

Tuesday, November 26, 2013

Làm thế nào để dạy con gái sống tình cảm

Những lúc mẹ ốm, hay có chuyện buồn, khóc, con gái tôi không thể hiện sự quan tâm hay tình cảm trìu mến gì, thường chỉ len lén nhìn mẹ rồi chạy đi chơi.



Con gái tôi 5 tuổi. Cháu khá ngoan và những lúc bình thường tỏ ra rất quấn mẹ. Hàng ngày bé hay nói yêu mẹ và luôn muốn làm mọi việc cùng mẹ (tắm, đánh răng, ăn uống…). Thế nhưng, những lúc mẹ buồn, cháu thường không bày tỏ sự quan tâm gì.


Có lần, tôi rất buồn, khóc sau khi cãi nhau với chồng, thì con cứ coi như không biết, nhất quyết đòi mẹ pha sữa (hoặc làm một việc gì đó mà thường vào giờ đó tôi vẫn làm cho con). Không hiểu có phải con gái tôi vô tâm hay thế nào? Tôi phải dạy làm sao để con biết chia sẻ cảm xúc với người khác và thể hiện sự quan tâm với người thân? (Minh Anh)


Ảnh minh họa: Wallcoo.net.

Ảnh minh họa: Wallcoo.net.


Trả lời:


Chào bạn,


Trong việc thể hiện hay nhận biết cảm xúc của người khác, trẻ em thường có hành động hay suy nghĩ khác với người lớn. Việc cháu nói yêu mẹ đã được thể hiện theo cách của cháu là cùng làm việc với mẹ, mà đối với trẻ đây là một cách bày tỏ như trò chơi và chúng ta nên biết trẻ chỉ chơi với ai mà trẻ thích, đó là một cách thể hiện tình cảm rất tự nhiên, bình thường. Còn ngược lại, khi bé thấy mẹ buồn, hay đau ốm thì đối với trẻ, đó lại là điều bất thường, trẻ không hiểu tại sao bữa nay mẹ lại có hành vi kỳ lạ và không vui vẻ nên không dám tiếp cận. Với chuyện mẹ khóc cũng vậy, việc đòi mẹ pha sữa là một cách mong muốn được mẹ quan tâm và đây cũng là một cách quan tâm đến mẹ của trẻ.


Vì thế chúng ta không nên trách bé vô tâm mà nên hiểu là bé chưa biết nhận diện cảm xúc theo cách nghĩ như người lớn, chưa biết cách thể hiện đúng nghĩa các cảm xúc yêu thương và lo lắng. Do đó trước khi muốn bé có khả năng bày tỏ và chia sẻ cảm xúc thì chúng ta cần tập cho trẻ nhận biết các cảm xúc, bằng cách chỉ cho cháu hiểu như thế nào là vui, là buồn, là thích thú hay khó chịu…


Bắt đầu từ những việc đơn giản là nói ra cảm xúc như: hôm nay mẹ rất vui, sau đó thể hiện bằng nụ cười và một vòng tay ôm ấp. Hoặc hôm nay mẹ không vui, mẹ buồn và sau đó là một biểu hiện cho trẻ biết như thế nào là buồn. Trẻ sẽ hiểu nghĩa của các cảm xúc và từ đó sẽ có được những đáp ứng phù hợp với tình trạng vui buồn hay mệt mỏi của bố mẹ.


(VnExpress)



Làm thế nào để dạy con gái sống tình cảm

Monday, November 25, 2013

"Giáo dục méo mó vì xã hội VN quá đề cao người thầy"

Nhiều người dạy học lộng hành, kiêu căng, coi lớp học như lãnh thổ riêng của mình, chính vì vậy mới xảy ra bao nhiêu việc chì chiết học sinh, bán điểm, mua bằng…



Cả xã hội đang rất quan tâm, đầu tư cho giáo dục và mong sao giáo dục là đầu tàu, là động lực để đưa đất nước tiến lên, nhưng điều gì đã cản trở làm cho giáo dục nước nhà phát triển chưa tương xứng. Vì sao? Đó là câu hỏi tưởng như dễ trả lời nhưng lời đáp vẫn là ẩn số.


Tôi có thâm niên gần 20 năm trong môi trường dạy học. Cứ đều đặn năm nào cũng vậy, dịp 20/11 chúng tôi luôn chìm ngập trong các điệp khúc “nhớ ơn”, “tri ân”, “ghi nhớ”, “trân trọng”… Nhiều lúc tôi tự hỏi: “Tại sao phải biết ơn?”. Tôi cùng các nhà giáo khác đều được lãnh lương hàng tháng cũng giống bao nghành nghề khác. Tôi làm việc, lao động đều được trả công xứng đáng, vậy có gì mà ca tụng, tri ân và biết ơn?


Quê tôi ở Miền Trung, hè nào tôi cũng về thăm quê cả tháng trời, thấy tôi nhàn hạ nên đứa bạn thuở hàn vi mới khuyên con theo nghề của tôi. Ra trường, ở quê các trường đầy đủ giáo viên nên người bạn ấy nhờ tôi xin giúp dạy vào trong miền Nam. Nhưng tôi loay hoay xin hoài cũng chẳng được, trường nào cũng bảo dư chỉ tiêu…


Trường tôi dạy có gần một trăm giáo viên. Ai ai cũng dạy kèm, dạy thêm nên người thấp nhất thu nhập cũng trên mười triệu. Có nhiều người dạy toán, lý, hóa, anh văn… thu nhập trên bốn năm chục triệu một tháng. Nghề dạy học nói gì thì nói cũng nhàn hạ hơn bao ngành nghề khác.


Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Ngoài dạy chính khóa trên lớp, tôi nghĩ nếu ai biết dạy thêm, dạy kèm thì thu nhập đâu đến nỗi gì mà phải rên rỉ, cần sự thương xót, ban ơn của những người khác. Cũng chính vì vậy, giờ đây rất nhiều người đua nhau vào học sư phạm, vì vậy mà xảy ra dư thừa giáo viên. Thậm chí tôi nghe nói một tỉnh ở miền Trung dư trên 10.000 giáo viên.


Hồi xưa, những người làm nghề giáo được xem là những người “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng”. Người ta hy sinh tiền của, công sức để lo dạy dỗ học trò nên người, vì vậy mà được “biết ơn”, “ghi nhớ “ là đúng đắn.


Tôi còn nhớ hồi học lớp 6, trường tôi nằm ở vùng quê miền núi xa thành phố, cô chủ nhiệm lớp tôi là cô Diệp ở Đà nẵng . Cô trắng trẻo, cao ráo, xinh xắn, rất nhiệt tình và tận tụy. Hồi đó cả lớp không có sách giáo khoa, vở ghi cũng thiếu nên cô về thành phố mua lên cho chúng tôi. Đến mùa cấy, mùa gặt… cô tham gia giúp cùng người dân trong khu hợp tác xã… Những con người như thế thì nên biết ơn, tri ân, còn giờ nhiều thầy cô dạy thêm, dạy kèm chưa hết tháng đã gợi ý học sinh nhắc phụ huynh đóng tiền.


Nói chung, tôi thấy giáo dục bây giờ khác hẳn ngày xưa… nên cần phải thay đổi các quan niệm về nghề dạy học. Theo tôi, muốn việc cải cách giáo dục hiệu quả thì đầu tiên cần phải giáo dục cho người dân, người học trò, giáo viên thay đổi một số quan niệm như: “Học để làm gì?”, “quan niệm về người dạy, người học…”.


Thứ nhất là quan niệm “học để làm gì?”. Ngày xưa, ông bà ta quan niệm học để làm người, học để biết đối nhân xử thế, học để làm quan… Sự học ngày xưa gần như là cả đời (vì học để làm người), thi không đỗ năm này thi năm sau đi thi tiếp. Học để đỗ ông Nghè, ông Cống cho dòng họ, gia đình nở mặt, nở mày, để được cái danh này, danh nọ…


Ngày nay, sự học phải được nhìn nhận một cách thực tế hơn, đó là học để làm việc. Học nhiều, học cao để có một công việc ổn định, lương cao. Mong muốn của xã hội, thị trường, của nhà nước ta là muốn ngành giáo dục đào tạo ra những con người có đủ kiến thức để làm việc, nguồn nhân lực phải đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội, tất nhiên sản phẩm đó phải đạo đức, lương tâm, thực thi đúng pháp luật…


Chính vì quan niệm mục đích của việc học chưa rõ ràng, còn bị ràng buộc bởi văn hóa của giáo dục cổ điển mà công cuộc cải cách giáo dục chưa tương xứng với mong muốn.


Ngay cả việc tổ chức thi cử cũng có nhiều bất cập. Năm nay tỷ lệ thi tốt nghiệp THPT có trường 0%, nhưng năm sau đồng loạt cả nước gần 100%, rồi ý kiến này nọ, sự hốt hoảng, lo âu của các nhà giáo dục tâm huyết là cũng vì …chưa xác định đúng thực tế về quan niệm mục đích của việc học (học để làm gì?).


Ngay cả vấn đề thi để làm gì? Bỏ thi để được gì?… cũng trở thành vấn đề tranh cãi, để rồi có lúc ta thấy được sự lúng túng ở những nhà hoạch định chiến lược giáo dục.


Thứ hai là quan niệm về người dạy. Xã hội Việt Nam có truyền thống quá đề cao vai trò của người thầy (người dạy học), điều đó tuy tốt nhưng cũng dẫn đến nhiều tiêu cực. Những sản phẩm của giáo dục bị méo mó, lệch lạc đều xuất phát từ đây.


Câu ca “muốn sang phải bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” tự bao đời đã thấm vào tâm hồn người Việt. Phụ huynh quá đề cao người dạy, đặt người dạy cao chót vót (trên cả cha mẹ, theo thứ tự “quân, sư, phụ”).


Quan niệm chung biến người dạy đồng nghĩa với bậc tu hành đức hạnh (sư), có quyền ban phát, gia ân cho người học, quyết định đến sự thành bại của người học… vô hình trung đã đẩy người dạy lộng hành, kiêu căng, coi lớp học như lãnh thổ riêng của mình, chính vì vậy mới xảy ra bao nhiêu việc chì chiết, bán điểm, mua bằng… Do đó, nhiều người dạy không hết mình, không làm tròn bổn phận, lương tâm, trách nhiệm của người có nhiệm vụ dạy học.


Trước hết chúng ta nên quan niệm người dạy là người lao động giống như bao ngành nghề khác. Họ phải chuẩn nghề nghiệp (kiến thức, hăng say, nhiệt tình…), phải có lương tâm, đạo đức, phải làm gương cho người học. Đó là mệnh lệnh, yêu cầu của nghề nghiệp, bên cạnh đó mọi người cũng đừng thần thánh hóa phẩm chất, đạo đức của người dạy để rồi có gì tiêu cực xảy đến với người dạy là cả xã hội rầm rộ lên án, miệt thị.


Vẫn còn một số quan niệm khác của ngành giáo dục cần phải được nhìn nhận thực tế, khách quan. Tuy nhiên trong bài viết này tôi chỉ mạnh dạn đưa ý kiến cá nhân của mình về hai vấn đề trên với mong muốn góp thêm ý kiến để giúp cho ngành giáo dục tạo nên những sản phẩm toàn diện về trí tuệ, đạo đức nhằm đáp ứng thiết thực nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực, giúp cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.


(VnExpress)



"Giáo dục méo mó vì xã hội VN quá đề cao người thầy"

Wednesday, November 13, 2013

Ứng xử thế nào khi con hay bị trêu chọc?

Con trai tôi đang học lớp 2, cháu là đứa bé nhút nhát và hơi cục tính. Thỉnh thoảng đi học về bé nói bị bạn bè hoặc những anh lớp lớn chọc ghẹo, có khi dẫn đến đánh nhau.



Thực sự tôi không biết dạy bé thế nào, xin quý báo hãy cho tôi lời tư vấn. (Minh Trang)


Bored Student in Classroom --- Image by © Michael Prince/Corbis


Trả lời:


Theo chia sẻ của bạn thì có hai vấn đề chúng ta cần lưu ý, đó là: bé nhút nhát và hay bị bạn bè trêu chọc. Hai vấn đề này phần nào có mối liên quan đến nhau, bởi vậy bạn cần giải quyết song song cả hai mới có thể cải thiện tình hình. Bạn có thể tham khảo một vài giải pháp gợi ý sau:


- Bé nhút nhát, chưa chơi hòa đồng với các bạn cũng là một trong những nguyên nhân lớn khiến bé bị bạn bè trêu chọc. Cha mẹ nên chú ý giúp con khắc phục tính cách này. Hãy khuyến khích con tích cực trong các hoạt động tập thể, tham gia các lớp ngoại khóa, lớp kỹ năng sống, chơi vui vẻ hòa đồng để các bạn yêu quý. Cha mẹ cũng có thể trao đổi với giáo viên ở lớp và tạo điều kiện cũng như các tình huống để giúp trẻ phát triển tính tự tin. Ví dụ, khi cha mẹ biết chắc chắn con đã làm bài tập rất tốt ở nhà rồi, hãy trao đổi với giáo viên để thúc đẩy trẻ lên trên lớp trình bày, với kết quả như thế nào thì giáo viên cũng đưa ra những nhận xét tích cực để giúp trẻ dần hình thành tính tự tin hơn trước đám đông.


- Cha mẹ cần trò chuyện, lắng nghe con tâm sự, động viên con vượt qua nỗi buồn khi bị trêu chọc. Cha mẹ có thể chỉ ra những ưu điểm của con để con tự tin hơn vào bản thân và phát huy thế mạnh của mình, đồng thời hãy luôn có những nhận xét tích cực về các hành vi tốt của con.


- Phân tích cho trẻ hiểu đánh nhau thực sự là điều không tốt và không thể giải quyết được vấn đề. Có rất nhiều cách khác mà con có thể ứng xử khi bị trêu chọc như: phớt lờ sự trêu chọc; nhìn thẳng và nói với bạn trêu chọc một cách cương quyết “Tớ không thích bạn làm như vậy!”; nhờ sự giúp đỡ của thầy cô…


- Tuy nhiên, khi tìm hiểu nguyên nhân con bị trêu chọc, nếu thấy đó là do những thói quen không tốt của con như: cắn móng tay, ngoáy mũi, chưa gọn gàng… thì bạn cần tập trung giúp con loại bỏ ngay thói quen xấu để hoàn thiện mình hơn.


- Bên cạnh đó, nếu như mức độ của việc bạn bè trêu chọc đi quá giới hạn thì gia đình cần liên hệ ngay với giáo viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, tránh để kéo dài dẫn đến tình trạng con chán đi học, sợ trường lớp, khủng hoảng tinh thần…


(Tri Thức Trẻ)



Ứng xử thế nào khi con hay bị trêu chọc?

Tuesday, October 29, 2013

Thi tốt nghiệp THPT chỉ còn hai môn

Theo đề án đổi mới giáo dục của Bộ GD – ĐT đã được thông qua, kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ giảm xuống chỉ còn hai môn.


Có thể thi tốt nghiệp hai môn Toán, Ngữ Văn


Đổi mới thi, công nhận tốt nghiệp THPT là một vấn đề quan trọng được đề cập cụ thể trong đề án đổi mới toàn diện giáo dục của Bộ GD – ĐT.


Trả lời trên TTXVN, Thứ trưởng Bộ GD – ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá, thi cử này được coi là giải pháp đột phá trong việc thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam.


Theo đề án này, việc thi, công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng cần kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình học tập (chủ yếu ở cấp THPT) và kết quả thi kiểm tra kết thúc (để tốt nghiệp), kết quả thi, kiểm tra đầu vào (để tuyển sinh).

Cụ thể, với bậc THPT, học xong môn nào sẽ đánh giá luôn kết quả đạt chuẩn đầu ra môn đó. Kỳ thi cuối cùng (thi tốt nghiệp) đề thi sẽ yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực, môn học để giải quyết một vấn đề chung theo hai lĩnh vực lớn là khoa học xã hội – nhân văn và khoa học tự nhiên hoặc cũng có thể chỉ thi hai môn Toán và Ngữ văn.


Đối với kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ, các trường tự tổ chức tuyển sinh theo hướng dựa vào kết quả công nhận tốt nghiệp THPT, có thể kiếm tra thêm một vài môn hoặc chuyên đề theo yêu cầu đào tạo của mỗi ngành, mỗi trường.


Đề thi sẽ thay đổi như thế nào?


Cũng theo đề án này, đề thi không chỉ tập trung vào việc đánh giá học sinh biết cái gì mà quan trọng hơn là đánh giá các em làm được gì từ những điều đã biết, tức là tập trung đánh giá năng lực người học. Định hướng này buộc đề thi không thể chỉ kiểm tra trí nhớ mà phải yêu cầu vận dụng tổng hợp, thực hành, kiểm tra, năng lực sáng tạo… của học sinh.


Theo đánh giá của ban soạn thảo đề án, hướng đổi mới này sẽ khắc phục được cơ bản những hạn chế về kiểm tra, đánh giá và thi cử hiện hành. Kết quả kiểm tra, đánh giá thực chất hơn, công bằng, khách quan và trung thực hơn; giảm bớt sự cồng kềnh, tốn kém của một số kỳ thi, tác động tích cực trở lại việc dạy và học.28tinmoibothitotnghiepthpt


Tuy nhiên, ban soạn thảo cũng cho rằng trong giáo dục phổ thông ở nước khoa học đánh giá còn lạc hậu, trình độ tổ chức, năng lực đánh giá của cán bô, giáo viên còn thấp, đặc biệt còn trọng bằng cấp. Đây là những điểm yếu cần khắc phục để đổi mới có hiệu quả.


Đồng tình với định hướng này của Bộ GD – ĐT, PGS Văn Như Cương – Hiệu trưởng trường THPT dân lập Lương Thế Vinh cho biết: “Tôi rất đồng tình với đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên quá trình 12 năm, thay vì chỉ thông qua một kỳ thi cuối cùng.


Việc đánh giá này nên theo tỷ lệ 50/50. Trong đó, 50% là kết quả học tập trong suốt quá trình, còn lại là dựa vào kỳ thi tốt nghiệp. Tuy nhiên, để kết quả này trung thực thì đòi hỏi toàn bộ quá trình giáo dục phải nghiêm túc và không còn hiện tượng xin – cho”.


Vị hiệu trưởng này cũng cho rằng đối với kỳ thi tốt nghiệp, Bộ GD – ĐT nên cho phép học sinh được quyền lựa chọn hai môn thi thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.


Tuy nhiên, theo PGS Văn Như Cương, để đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá đòi hỏi ngành giáo dục phải cải cách đồng bộ từ chương trình, sách giáo khoa đến phương pháp dạy và học.


Chia sẻ trên TTXVN, GS Nguyễn Minh Thuyết cũng nhận định hướng đánh giá học sinh với nhiều hình thức, xét cả quá trình học và thi cử như đề xuất trên là khá đúng đắn.


Ông cho rằng: “Dự kiến thi tốt nghiệp hai môn văn toán là hai môn công cụ tiêu biểu cho khối chuyên môn tự nhiên và xã hội đồng thời môn khác được kiểm tra trong suốt qua trình học sinh học, tôi thấy được. Tôi cho rằng với định hướng này băn khoăn của xã hội được giải tỏa, học trò học tốt hơn”.


Tại Hội nghị Trung ương lần VIII (30/9-9/10), đề án đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo này đã được thông qua sau gần một năm soạn thảo, sửa đổi. So với dự thảo trình Hội nghị Trung ương lần VI, đề án được thông qua này thể hiện sự thẳng thắn, đúng mức hơn trong đánh giá thực trạng, nguyên nhân; làm rõ hơn mối liên hệ về nội dung giữa các phần.


Đề án gồm 5 phần: Sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Thực trạng giáo dục và đào tạo Việt Nam; Định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; Tổ chức thực hiện; Những vấn đề xin ý kiến Trung ương.


(Tri Thức)



Thi tốt nghiệp THPT chỉ còn hai môn

Sunday, October 20, 2013

Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?

Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, tình trạng thất nghiệp gia tăng là điều tất yếu. Điều này thể hiện rõ tính cung cầu lao động trong nền kinh tế thị trường.



Việt Nam cam kết đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu của phát triển

Việt Nam cam kết đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu của phát triển


Không riêng gì tại Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng gia tăng nạn thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian qua.


Báo chí đã nói rất nhiều về tình trạng lao động chất lượng cao bị thất nghiệp, hoặc phải nhận những công việc không tương xứng với bằng cấp được đào tạo. Chẳng hạn như hàng nghìn cử nhân thất nghiệp ở Nghệ An, gần 25.000 sinh viên ra trường thất nghiệp ở Thanh Hóa, cả nghìn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệp ở Đà Nẵng,…


Không chỉ cử nhân thất nghiệp, mà cả thạc sỹ cũng thất nghiệp. Nhiều bài báo đã nêu lên những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp đi bán sim điện thoại, ở nhà nội trợ, thậm chí đi phụ xe để lấy tiền xin việc hoặc đi làm công nhân thời vụ.


Đâu là nguyên nhân của vấn đề này?


Theo Luật giáo dục, mục tiêu của đào tạo thạc sỹ là “giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” (điều 39). Đồng thời, yêu cầu chất lượng thạc sỹ được đào tạo phải “nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình” (điều 40).


Thế nhưng, những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp được báo chí nêu ra hình như không đúng với mục tiêu và chất lượng đào tạo. Các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này đều cùng lý do không xin được việc sau khi tốt nghiệp đại học nên học tiếp để hy vọng bằng thạc sỹ sẽ xin việc dễ hơn. Đây cũng là lý do của phần lớn những người đi học cao học ngay sau khi tốt nghiệp.


Rõ ràng, mục tiêu đào tạo thạc sỹ là tạo ra lực lượng lao động có chuyên môn sâu về chuyên ngành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong chuyên môn và có khả năng nghiên cứu khoa học.


Thế nhưng, hầu hết lý do học cao học là để dễ xin việc như nói ở trên cho thấy, mục tiêu đi học của những người này không đồng nhất với mục tiêu của đào tạo thạc sỹ. Vì thế, không thấy những người này khẳng định một cách thẳng thắn về năng lực chuyên môn lẫn khả năng sáng tạo và nghiên cứu khoa học để phủ nhận việc loại hồ sơ của họ là bất hợp lý ngoài việc khẳng định họ có bằng thạc sỹ.


Thêm nữa, hầu hết chỉ thấy các thạc sỹ này nộp đơn xin việc vào các vị trí công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước. Rõ ràng, các vị trí công chức hành chính lẫn chuyên môn ở từ cấp xã/phường đến cấp sở không cần bằng thạc sỹ. Cũng như các vị trí viên chức trong các trường tiểu học và phổ thông, các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng không cần đến bằng thạc sỹ.


Có một điều bất nhẫn là hầu hết những ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí nêu trên đều có gia cảnh khó khăn, gia đình phải vay mượn tiền để cho họ đi học. Và khi học xong, không tìm được việc làm thì nợ lại chồng nợ.


‘Cao học làm gì?’


Tác giả đặt câu hỏi về mục đích của việc theo học cao học của giới trẻ

Tác giả đặt câu hỏi về mục đích của việc theo học cao học của giới trẻ


Không biết sự thật mà báo chí nêu đến đâu, nhưng nếu thực sự là như vậy thì những gia đình này, những ‘thạc sỹ’ này đều có cái nhìn thiển cận về bằng cấp và công việc. Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc.


Vậy, họ cố gắng lấy bằng thạc sỹ để làm gì nếu không có mục tiêu làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, hoặc giảng dạy sau phổ thông? Họ vay tiền để đi học làm gì nếu ra trường không xin được công việc đúng với chuyên môn và bằng cấp?


Họ học cao, nhưng tư duy và trình độ có thực sự cao? Bằng cấp có tương xứng với năng lực?


Như đã nêu ở trên, không thấy các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này khẳng định có đủ năng lực chuyên môn lẫn kiến thức liên ngành, có đủ năng lực làm việc độc lập và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, dư luận hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Bằng thạc sỹ của họ có tương xứng với năng lực thực sự của họ hay không?


Mỗi chuyên ngành học đều có những đặc thù về nghề nghiệp, và một người có trình độ cao sẽ khai thác được đặc thù đó trong quá trình tìm kiếm công việc lẫn tạo ra thu nhập của mình bằng đúng chuyên môn đã được đào tạo.


Đơn cử trường hợp cô thạc sỹ văn chương mà báo chí nêu trong thời gian qua phải xin đi làm công nhân thời vụ. Một thạc sỹ văn chương loại giỏi hoàn toàn có đủ khả năng làm việc độc lập bằng chuyên môn như có thể đi dạy hợp đồng tại các trường phổ thông, ĐH, CĐ hoặc cộng tác với các báo, tạp chí chuyên ngành để viết bài nghiên cứu, bài báo, thậm chí viết bài đưa tin.


Thực tế trong xã hội đã cho thấy những công việc như vậy không quá khó nếu họ có năng lực thật sự tương ứng với bằng cấp. Hiện tại, không ít các sinh viên đã làm những việc như vậy khi còn đang ngồi trong giảng đường.


Vậy, tại sao một thạc sỹ văn chương loại giỏi không làm được như vậy mà phải đi làm công nhân thời vụ? Rõ ràng, chỉ có thế là kiến thức thực sự của họ không tương xứng với tấm bằng.


Sẽ có người đặt câu hỏi rằng, không phải ai cũng viết bài chuyên môn, viết báo được, hoặc xin đi dạy hợp đồng cũng không dễ. Nhưng xin thưa, điều này hoàn toàn không khó khăn đối với một thạc sỹ văn chương loại giỏi. Nếu không làm được điều này, chỉ có thể là năng lực của họ không xứng đáng với tấm bằng, hoặc có vấn đề trong quá trình đào tạo và cấp bằng của các trường đại học.


Trên đây chỉ phân tích một trường hợp cụ thể. Các ngành nghề khác cũng có tính chất tương tự, nghĩa là mỗi ngành đều có một đặc thù riêng trong xã hội, và người có chuyên môn không khó để kiếm việc nếu giỏi thật sự. Tất nhiên, cũng không loại trừ một số lĩnh vực hẹp, và sẽ có những người giỏi khó kiếm việc. Nhưng là khó chứ không phải không thể.


‘Việc làm nhà nước?’


Nhiều người có bằng cấp ở VN làm các công việc khác với chuyên môn được đào tạo, theo tác giả

Nhiều người có bằng cấp ở VN làm các công việc khác với chuyên môn được đào tạo, theo tác giả


Nhu cầu lao động chất lượng cao là cần thiết trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Nhu cầu này cần thiết cho cả nền kinh tế quốc dân, nghĩa là cần thiết cho cả các tổ chức, doanh nghiệp khu vực tư nhân chứ không chỉ dành riêng cho khu vực nhà nước.


Trong tiến trình cải cách đất nước theo hướng hội nhập và phát triển ở Việt Nam. Khu vực nhà nước sẽ thu hẹp lại ở lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ chuyển sang cổ phần hóa có vốn nhà nước hoặc tư nhân hóa toàn bộ. Những lĩnh vực công như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ cũng không nằm ngoài xu hướng này.


Hiện tại, lao động chất lượng cao của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chất lượng đầu ra của các trường đại học, cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Rõ ràng, các trường này cũng như những người học phải xác định rõ đào tạo như thế nào và học cái gì để đáp ứng yêu cầu đó.


Như vậy, có thể thấy nếu một người được đào tạo đảm bảo chất lượng, có đầy đủ kiến thức chuyên ngành và tư duy tương xứng với bằng cấp, thì không khó kiếm một công việc, kể cả khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng như trong thời gian qua.


Thế nhưng, hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước như đã nêu ở trên. Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?


Có thể thấy, hầu hết các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí đề cập đều không phải thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Và rõ ràng cơ chế tuyển dụng lao động ở khu vực ngoài nhà nước rất sòng phẳng, minh bạch, không cần tiền “bôi trơn”, không quá quan tâm đến bằng cấp, cũng như mức thu nhập sẽ cao hơn nhiều khu vực nhà nước.


Vậy tại sao họ lại cố gắng vào nhà nước, trong khi biết rõ cơ chế làm việc của phần lớn các đơn vị, cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập trong phân công lao động, vẫn còn hiện tượng ưu tiên con ông cháu cha, vẫn còn hiện tượng bỏ tiền để “chạy việc”. Thậm chí, để hoàn thành giấc mơ đó, có thạc sỹ chấp nhận đi làm phụ xe để dành tiền đi xin việc.


Rõ ràng, có một sự mâu thuẫn đối với các thạc sỹ này, họ muốn nhận được công việc tương xứng với bằng cấp, nhưng lại không thể hiện được năng lực làm việc tương ứng. Trong khi, khu vực ngoài nhà nước hoàn toàn có thể cho họ cơ hội thể hiện điều đó. Phải chăng, họ chỉ dám nộp đơn xin việc vào cơ quan nhà nước vì chỉ dựa được vào tấm bằng?


Vấn đề ‘thạc sỹ thất nghiệp’ sẽ còn nhận được nhiều đánh giá, nhận định khác nhau trong xã hội. Và người viết cũng chỉ đề cập các quan điểm trên theo thực tế chung chứ không phải đúng hết với mọi đối tượng, mọi nghành nghề trong xã hội.


Tuy nhiên, có thể thấy rõ sự bất cập trong công tác đào tạo lao động chất lượng cao và nhu cầu của xã hội. Đồng thời, không thể không nói đến chất lượng và định hướng của công tác đào tạo.


Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết, các thạc sỹ này nên tự nhìn nhận và đánh giá năng lực của mình, trước khi đổ lỗi cho cho nguyên nhân khách quan từ cơ chế, chính sách của nhà nước.


*Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, người đang sinh sống ở Hà Nội


Trường Yên


(BBC)



Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?

Wednesday, October 16, 2013

Ra đề thi "Ngọc Trinh, Bà Tưng", Sở GD-ĐT nhận lỗi

Trước những ý kiến trái chiều và phản ứng của dư luận về đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12, chiều 15/10, Giám đốc Sở GD-ĐT Hải Phòng đã nghiêm túc rút kinh nghiệm.



Ngày 8/10, Sở GD-ĐT Hải Phòng tổ chức kỳ thi học sinh giỏi thành phố năm học 2013-2014. Trong đề thi môn thi Ngữ văn dành cho học sinh bảng A có câu 1 như sau “Người mẫu Ngọc Trinh từng trả lời phỏng vấn rằng “Không có thì tiền cạp đất ra mà ăn à?”. Mới đây, cô gái trẻ Lê Thị Huyền Anh (biệt danh bà Tưng) khi trả lời một trang mạng xã hội cũng thẳng thắn “Tôi mơ ước có nhiều đại gia, nhiều người giàu tìm đến mình cho tôi thật nhiều tiền” (theo Vietnamnet)”.


Từ những hiện tượng trên, anh (hay chị) hãy viết một bài văn tối đa 800 từ về chủ đề tiến bộ xã hội và ước mơ đại gia của cô gái trẻ”.


Đề thi này đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều trên diễn đàn trong mấy ngày qua.

Đề thi này đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều trên diễn đàn trong mấy ngày qua.


Chiều 15/10, Giám đốc Sở Giáo dục- đào tạo (GD-ĐT) Hải Phòng Đỗ Thế Hùng cho biết, Sở đã nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc ra đề thi.


Trước mắt, Sở đã dừng công việc ra đề thi các vòng thi tiếp theo đối với nhóm cán bộ, giáo viên đã ra đề thi nói trên. Theo đó, việc ra đề thi bảo đảm yêu cầu chuyên môn như ra đề mở, gắn với thực tế xã hội nhưng cần xem xét đến tính xã hội và hiệu ứng với dư luận xã hội.


Đặc biệt cần thận trọng trong việc lựa chọn nội dung đề thi có liên quan các vấn đề nhạy cảm của xã hội, rà soát các bình diện của đề thi trong mối quan hệ nhiều chiều với đời sống xã hội.


Sở GD-ĐT Hải Phòng cũng đã có văn bản báo cáo lãnh đạo TP Hải Phòng về nội dung đề thi kỳ thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12, tổ chức ngày 8/10 có nội dung liên quan đến phát ngôn của hai nhân vật gây tranh cãi về quan điểm sống trong giới trẻ hiện nay…


Theo Sở GD-ĐT Hải Phòng, đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12 năm học 2013-2014 được ra theo đúng quy định, đảm bảo đúng yêu cầu, không sai sót về kiến thức.


Đề thi đã thể hiện việc tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự, quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội theo tinh thần chỉ đạo của Bộ GD- ĐT.


Đề thi tương ứng với các chủ đề “Bàn về tiền bạc”, “Sống đẹp là thế nào bạn hỡi”, “Quan niệm về hạnh phúc”… Dạng đề thi này nhằm kiểm tra thêm kĩ năng vận dụng kiến thức sách vở, soi sáng vào cuộc sống, cùng kỹ năng xem xét các vấn đề cuộc sống đa chiều, đa diện.


Đồng thời, đề thi định hướng về vấn đề lối sống của giới trẻ nhìn trên quan điểm tiến bộ xã hội, không thể lấy việc chạy theo đồng tiền bằng mọi giá làm động lực, ước mơ. Và để đáp ứng yêu cầu đề mở, các dẫn đề và lệnh đề rõ ràng nhưng không ép buộc người làm bài, “mượn” một hiện tượng đang nổi lên trong đời sống gây tranh cãi trong giới trẻ để cuốn hút học sinh vào việc luyện rèn nghiêm túc; đáp ứng tốt yêu cầu phân loại học sinh…


Giám đốc Sở GD-ĐT Hải Phòng cũng cho biết, kết quả chấm bài thi môn Ngữ văn của toàn bộ 82 thí sinh dự thi bảng A cho thấy: không có thí sinh nào làm bài thi ủng hộ quan điểm sống của hai nhân vật được trích dẫn câu nói trong đề thi.


100% thí sinh có điểm từ trung bình trở lên (cao nhất 8,75 điểm và thấp nhất 5,5 điểm). Trong đó, 4/82 bài đạt điểm giỏi (từ 8,5 điểm trở lên); 44/82 bài đạt điểm khá (từ 6,5 điểm trở lên).


(Nhân Dân)



Ra đề thi "Ngọc Trinh, Bà Tưng", Sở GD-ĐT nhận lỗi

Wednesday, October 9, 2013

Đề thi văn về Ngọc Trinh, Bà Tưng là "phi giáo dục"

PGS Văn Như Cương thốt lên: ‘Tại sao lại đòi hỏi học sinh quan tâm đến Ngọc Trinh, Bà Tưng?’ khi đọc đề thi HSG Văn của TP Hải Phòng.


>>> Đề thi học sinh giỏi xuất hiện Bà Tưng, Ngọc Trinh gây tranh cãi



Những ngày qua, cư dân mạng sốt lên khi đọc đề thi HSG Văn của TP Hải Phòng với sự xuất hiện của Ngọc Trinh và Bà Tưng:


“Câu 1: Người mẫu Ngọc Trinh từng trả lời phỏng vấn rằng : “Yêu không có tiền thì cạp đất mà ăn à?” Mới đât cô gái trẻ Lê Thị Huyền Anh (biệt danh “Bà Tưng”) khi trả lời một trang mạng xã hội, cũng thẳng thắn : “Tôi mơ ước có nhiều đại gia, nhiều người giàu quan tâm đến mình, cho tôi thật nhiều tiền: (Theo Vietnamnet)


Từ những hiện tượng trên, anh/chị hãy viết một bài văn (tối đa 800 từ) về chủ đề : “Tiến bộ xã hội và ước mơ đại gia của cô gái trẻ”.


Cư dân mạng rất tâm đắc với đề thi này

Cư dân mạng rất tâm đắc với đề thi này


Ngay sau khi được phát tán, đề thi nhận được sự quan tâm lớn từ cư dân mạng, rất nhiều người khen đề thi hay, sáng tạo, bám sát thực tế và có khả năng phân loại học sinh cao. Ngay sau khi đọc câu hỏi này, PGS.Văn Như Cương đã khẳng định: “Tôi không tán thành câu hỏi này. Khi đưa Ngọc Trinh, Bà Tưng vào đề thi, cần phải lường trước được liệu các em học sinh có biết về những người này không? Tôi nghi ngờ rằng không phải học sinh nào cũng biết về câu nói của họ.


Trước đây có báo đã từng hỏi tôi về Huyền Chíp nhưng tôi từ chối trả lời vì tôi không biết Huyền Chíp là ai. Để có thể bình luận về một hiện tượng, một câu nói thì phải biết sâu về nó. Vậy khi đưa câu nói của Ngọc Trinh, Bà Tưng vào đề thi HSG phải chăng để khuyến khích các em đọc về những câu chuyện lá cải như thế?”


khi đưa câu nói của Ngọc Trinh, Bà Tưng vào đề thi HSG phải chăng để khuyến khích các em đọc về những câu chuyện lá cải như thế?”


PGS.Văn Như Cương:

PGS.Văn Như Cương: “Khi đưa câu nói của Ngọc Trinh, Bà Tưng vào đề thi HSG phải chăng để khuyến khích các em đọc về những câu chuyện lá cải như thế?”


Theo thầy Cương, để đưa ra được một đề thi, người làm đề cần hướng vào đại đa số người thi. Đặc biệt là đề thi nghị luận xã hội thì càng phải cẩn trọng hơn. Không phải cứ đưa những hiện tượng nóng sốt của xã hội đã là hay, là cập nhật. Nhiều người đánh giá đề thi này có khả năng phân loại học sinh cao.


Thứ nhất, học sinh phải biết được Ngọc Trinh, Bà Tưng là ai, biết về câu nói của họ, nghĩa là có kiến thức xã hội tốt. Thứ hai, học sinh phải có khả năng lập luận rõ ràng, quan điểm đúng đắn mới có thể làm được bài, không sa đà vào chém gió.


Tuy nhiên, thầy Cương nói: “Để phân loại học sinh có nhiều cách. Nhưng những đề thi PR cho “trai đẹp bị trục xuất” rồi Ngọc Trinh, Bà Tưng như thế này là không ổn. Tại sao lại đòi hỏi học sinh quan tâm đến Ngọc Trinh, Bà Tưng? Có những người chỉ quan tâm đến Syria, Triều Tiên thì sao?”


Trong khi cư dân mạng thích thú với đề thi này, thầy Văn Như Cương lại cho rằng nó chưa toàn diện, chưa phổ cập. Nội dung đề thi không hướng tới tất cả đối tượng dự thi là phi giáo dục.


(Người Đưa Tin)



Đề thi văn về Ngọc Trinh, Bà Tưng là "phi giáo dục"

Sunday, September 8, 2013

Giáo dục Việt Nam xếp hạng sau cả Campuchia

Tính hiệu quả của hệ thống giáo dục Việt Nam chỉ xếp thứ 7 trong số 8 nước ASEAN được xếp hạng mà Báo cáo về Tính Cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố.



Theo đó WEF ghi nhận Singapore, Malaysia và Brunei Darussalam lần lượt đứng đầu trong khi Campuchia đứng thứ 6, Việt Nam thứ 7 và Thái Lan ở cuối bảng. Lào và Myanmar không được WEF xếp hạng.


Kết quả xếp hạng này dường như trái ngược với những bản báo cáo thành tích về số lượng dày đặc các học sinh giỏi, học sinh tốt nghiệp, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư tại Việt Nam.


Đang có sự chênh lệch giữa những nhận xét và váo cáo chủ quan về chất lượng giáo dục của Việt Nam

Đang có sự chênh lệch giữa những nhận xét và váo cáo chủ quan về chất lượng giáo dục của Việt Nam


Thế nhưng báo cáo này xem ra có phần phù hợp với nhận xét của Giáo sư Thomas J.Vallely trước đó từng chỉ ra 5 ngộ nhận của Việt Nam về việc làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.


Trong số này Giáo sư Thomas J.Vallely cho rằng Việt Nam ngộ nhận vì nghĩ bộ tiêu chuẩn mà các trường ở Việt Nam đang áp dụng sẽ tạo ra chất lượng cao. Song, vấn đề khó nhất, lớn nhất là làm thế nào để quản trị, quản lý trường đại học (Việt Nam nên so sánh hệ thống đại học của mình với các nước khác, không nên so sánh mình với mình);


Hai là, việc tăng nguồn lực vật chất là có thể tạo ra chất luợng cao hơn hiện có. Tôi (Giáo sư Thomas J.Vallely) rất hoài nghi về khả năng Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam vay để phát triển giáo dục. Giáo sư cho rằng, nếu tiếp tục thì sẽ không thành công, không hiệu quả mà vấn đề là ở chỗ đổi mới quản trị, quản lý trước rồi mới đến cái khác. Kinh nghiệm ở Trung Quốc là khó áp dụng ở Việt Nam;


Những nhận xét khách quan này cũng là dễ hiểu khi báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đảm bảo chất lượng và chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến chiều 15/8 cũng chỉ ra những điều đáng ngại về giáo dục.


Theo đó, từ việc biên soạn còn chưa cân đối giữa “dạy chữ” với “dạy người”, giữa lý thuyết và thực hành, giữa dung lượng kiến thức, kỹ năng và thời lượng thực hiện của một số môn học. Một số nội dung trong chương trình, trong sách chưa thực sự cơ bản, khối lượng kiến thức nhiều, dẫn đến sự “quá tải”…,


Bên cạnh đó, việc phân ban không đạt được mục tiêu đề ra, không phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của học sinh. Sau 3 năm triển khai thực hiện phân ban đại trà, năm học 2008-2009, cả nước có gần 84% học sinh lớp 10 học ban Cơ bản, chỉ hơn 14% học sinh học ban Khoa học Tự nhiên, xấp xỉ 2% học sinh học ban Khoa học Xã hội và Nhân văn.


Tiền vẫn tăng đều, bộ trưởng kêu thiếu tiền


Đáng chú ý là ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh, từ 15,3% năm 2001 lên đến 20% tổng chi ngân sách năm 2010. Giai đoạn 2008-2012, tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 5,5% GDP. Ngân sách chi cho giáo dục phổ thông chiếm khoảng 55% đến trên 60% tổng chi cho giáo dục đào tạo và luôn được ưu tiên đầu tư tăng thêm hằng năm.


Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cũng cho rằng tài chính đầu tư cho giáo dục nhiều chứ không ít song thiếu bàn tay chỉ đạo, thiếu niềm tin của xã hội nên nguồn lực bị phân tán. Vì thiếu niềm tin nên nhiều gia đình mang tiền đi đầu tư giáo dục ở bên ngoài. Nếu không củng cố niềm tin đó đầu tư cho giáo dục vẫn dàn trải.


Song Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận giải thích thêm rằng, 20% ngân sách là chi cho giáo dục đào tạo nói chung chứ không chỉ của riêng bộ này. Vậy nên số chi cho giáo dục phổ thông trên tổng thể vẫn không đủ đảm bảo cho chất lượng tối thiểu của giáo dục.


Thế nhưng vẫn có ý kiến lo ngại: “Nếu tăng được ngân sách thì chất lượng giáo dục có tăng tỷ lệ thuận được không? Tôi nghi ngờ. Có ý kiến là chính ngành giáo dục cũng phải vì lợi ích người dân mà chiến thắng chính lợi ích của ngành mình”.


Trong khi đó báo cáo của WEF lại khẳng định rằng tài chính không phải là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm nền giáo dục tốt và lương giáo viên cao không hẳn tạo ra khả năng giảng dạy thích hợp.


Mới đây, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan còn đánh giá đạo đức học sinh hiện nay xuống cấp đến mức báo động.


Theo bà Doan, nếu muốn thay đổi sản phẩm đào tạo thì cần chỉ thẳng vào khiếm khuyết, phải xác định thực tế mục tiêu giáo dục của từng cấp học, xem khiếm khuyết cái gì thì sửa cái đó. Ví dụ, ở bậc tiểu học, giáo dục nhân cách phải được chú trọng vì nó chi phối tất cả quá trình sau này, bậc tiểu học cần tập trung vào dạy người và học lễ…


(Báo Đất Việt)



Giáo dục Việt Nam xếp hạng sau cả Campuchia