Showing posts with label Vu Lan. Show all posts
Showing posts with label Vu Lan. Show all posts

Thursday, August 22, 2013

Những tướng tốt kỳ lạ của Đức Phật

Đức Phật – con người toàn diện, không chỉ về mặt trí tuệ và đức hạnh mà còn về mặt hình thể.



Các kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền đều có nói đến 32 tướng tốt của đức Phật một cách đầy đủ, những tướng này được phát hiện lúc mới đản sanh, do các vị tướng sư xác định.


Sau này Đức Phật cũng xác nhận có đủ 32 tướng qua các kinh lưu truyền. Theo quan điểm tướng pháp Ấn Độ cổ, ai có đủ 32 tướng tốt thì sẽ làm vua thống lãnh thiên hạ, nếu xuất gia thì sẽ thành Phật. Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa có đủ 32 tướng đã báo hiệu Ngài không phải là một người thường. Điều đó trở thành hiện thực khi Ngài xuất gia tìm đạo và đã thành tựu được quả vị Phật Đà.


Thế nào là tướng tốt?


Tướng tốt theo quan điểm tướng pháp Á Đông không phải là quan niệm về cái đẹp thẩm mỹ, mà chính là cái đẹp của đức hạnh biểu hiện qua hình thể. Đời sống sung túc, tốt đẹp của một người được biểu hiện qua hình tướng đắc cách hay không, những tướng tốt này lại có nguồn gốc sâu xa liên quan đến phúc đức của ông bà cha mẹ hay của chính mình trong quá khứ. Điều này được đúc kết dựa theo kinh nghiệm và quan sát thực tế mà rút ra được những quy luật về phương pháp.


Đối với Phật giáo, thân tướng đắc cách tốt đẹp, biểu hiện đời sống tốt đẹp, qua lý thuyết chánh báo đi đôi với y báo. Tất cả những điều kiện tốt đẹp đó đều do công đức tích lũy trong quá khứ, theo quy luật nhân quả: gieo nhân nào gặt quả nấy. Đức Phật có đủ 32 tướng tốt có nghĩa là Ngài đã tích lũy vô lượng công đức trong nhiều kiếp, này thừa hướng kết quả của những công đức đó mà thôi.


Quan niệm về tướng tốt và xấu như thế nào, theo tiêu chuẩn nào, thì thuộc vào kinh nghiệm thực tế và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, của mỗi đất nước. Có những tướng theo quan điểm Ấn Độ là tốt nhưng đối với chúng ta thì xấu hoặc kì dị. Do đó cần phải rộng lượng khi nhận định về tướng pháp.


Những tướng tốt của đức Phật


Ba mươi hai tướng tốt của đức Phật được đề cập, khá nhiều trong kinh, trong Nam tạng cũng như Bắc tạng như: kinh Sơ Đại Bổn Duyên (Trường A Hàm), kinh Tâm Thập Nhị Tướng (Trung A Hàm), kinh Đại Bổn (Trường Bộ), kinh Tướng (Trường Bộ), kinh Tập, kinh Tiểu Bộ… và một số rải rác trong kinh tạng Đại Thừa…


Tham khảo 32 tướng tốt của đức Phật qua các kinh trên, có khá nhiều sự khác nhau, có những tướng kinh này có, kinh kia không và ngược lại. Có một số tướng quan điểm khác nhau. Như kinh Sơ Đại Bổn Duyên có tướng chữ “vạn” ở ngực nhưng các kinh khác không có. Kinh Tướng (Trường Bộ) không có tướng nhục kế như hầu hết các kinh khác. Mặt khác, cùng là kinh Nam truyền vẫn có những quan điểm khác nhau, Bắc truyền cũng vậy. Có những tướng sai biệt lệch lạc khá xa như tướng 18 trong Sơ Đại Bổn Duyên là tướng 7 lỗ trong người đều đầy đặn bằng phẳng. Trong kinh Tướng thì nói 7 chỗ trong người, tướng thứ 3 trong Sơ Đại Bổn Duyên nói có màng lưới mỏng giữa kẻ chân tay như chân ngỗng chúa. Nhưng kinh Tam Thập Nhị Tướng thì cho là như chim nhạn. Tạng Pàli kinh Lakkhana thì nói lòng bàn tay bàn chân có chỉ giăng như lưới…


Từ những sai biệt đó chúng ta khó mà xác định kinh nào là nói đúng và đủ 32 tướng, nếu ngây thơ tin vào 32 tướng của riêng một kinh nào thì ta khó mà hình dung nổi hình dáng của đức Phật như thế nào.


Mặc dù gặp những khó khăn như trên, nhưng qua những tướng mà nhiều kinh đều nói giống nhau, qua thực tế hình tướng đức Phật đang lưu truyền, chúng ta có thể rút ra được những tướng tốt của đức Phật như sau:


1. Lòng bàn chân bằng phẳng.


2. Dưới lòng bàn chân có hình bánh xe ngàn căm.


3. Gót chân đầy đặn.


4. Ngón tay, ngón chân thon dài.


5. Tay chân mềm mại.


6. Đứng thẳng tay dài đến gối.


7. Lông màu xanh biếc và xoáy tròn về bên phải.


8. Da mịn màng trơn láng bụi không bám.


9. Da màu vàng như màu vàng y.


10. Tướng mã âm tàng.


11. Bụng thon.


12. Ngực nở nang.


13. thân hình cao lớn.


14. Có đủ 40 cái răng.


15. Răng bằng và đều khít.


16. Răng trắng và bóng.


17. Tiếng nói trong trẻo vang xa.


18. Ngực có chữ “vạn”.


19. Vai ngang và đều đặn.


20. Lưỡi dài và rộng.


21. Mắt xanh và đẹp.


22. Có một sợi lông trắng giữa 2 mày xoáy tròn xoay về bên phải.


23. Đỉnh đầu có nhục kế.


Một số tướng tốt ở trên phù hợp với quan điểm tướng tốt của Trung Hoa và Việt Nam. Một số tướng tốt còn lại có phần sai biệt giữa các kinh, chúng tôi không dẫn ra đây.


2


Biểu tượng của một số tướng tốt


Khảo sát về 32 tướng tốt của một bậc đại nhân theo quan điểm Ấn Độ, có khá nhiều loại tướng pháp mang ý nghĩa biểu tượng, có ý nghĩa tướng pháp đích thực. Chính đức Phật cũng sử dụng ý niệm và niềm tin vào tướng tốt của mọi người để truyền đạt lý tưởng “Diệt trừ điều ác, tăng trưởng điều thiện”. Các kinh Lakkhana Sutra, kinh Tam Thập Nhị Tướng, đều có lý giải nguyên nhân, do có công đức gì mà được tướng tốt đó, giảng giải khá chi tiết, ví dụ:


1) Tướng nhục kế (Usnissa): Tướng này là một cục thịt nổi trên đỉnh đầu, do công đức hiếu kính cha mẹ, kính thuận sư trưởng và các bậc trưởng thượng mà được thành tựu. Quan điểm của Đại thừa thì cho rằng tướng này biểu thị cho trí tuệ của Phật, từ tướng nhục kế này còn triển khai thêm tướng phụ là Vô kiến đảnh tướng, là tướng nằm trên đỉnh đầu nhưng không thể thấy được bằng mắt thường, chỉ có tuệ nhãn mới thấy. Theo diễn giải của các nhà Phật học Đại thừa thì dưới cái nhìn của tuệ nhãn, tướng này có hình tướng bánh xa ngàn căm, có nơi nói như hoa sen ngàn cánh, biểu thị cho trí tuệ, qua tướng này có thể phân biệt được công đức tu hành nhiều hay ít.


2) Tướng chữ “vạn” (Svastika): Trong các kinh tạng Pàli không thấy nói tướng chữ “vạn”, các bộ A Hàm chỉ có kinh Sơ Đại Bổn Duyên nói đến, có thể tướng này được thêm vào về sau, cho nên không nói do tạo công đức gì mà có. Có 2 quan điểm giải thích về tướng chữ “vạn” như sau:


1. Chữ “vạn” có nghĩa là Kiết tường, là một loại chữ linh thiêng của Ấn Độ, chữ linh này có khả năng đem đến mọi điều tốt lành may mắn (Từ điển PH, ĐTC)


2. Chữ “vạn” biểu thị công đức vô lượng, từ bi vô lượng và trí tuệ vô lượng của Phật. Đó là biểu phù hiệu chứ không phải chữ viết. (TĐ PHVN, TMC). Có lẽ lúc đầu nó là một linh tự, về sau nghĩa gốc của nó biến đổi thành ý nghĩa biểu tượng cho sự viên mãn tâm, trí và đức. Hai tướng này đã trở thành biểu tượng gắn liền với các tượng Phật đang thờ hiện nay, đã được nhân dân hóa.


Ngoài hai tướng trên, một số kinh còn cho rằng đức Phật còn có tướng hào quang tỏa ra chung quanh thân thể khoảng một tầm. Tướng này không thấy nói tới trong các kinh mà chúng tôi đã trích dẫn, mà đề cập trong Luận tạng Pàli Katha-Vatthu.


3) Tướng lưỡi rộng dài (Pahutaiivaho hoti) được diễn giải là lưỡi của đức Phật có thể liếm đụng tai được… Tướng này do công đức luôn nói lời chân thật diệu dàng, không thóa mạ người… mà có tướng lưỡi rộng dài. Trong kinh Di Đà có nói “Chư Phật mười phương le lưỡi rộng dài che cả tam thiên Đại Thiên thế giới mà nói lời thành thật rằng…” Do đó tướng lưỡi rộng dài biểu tượng cho tính ngay thật nói năng đúng mức, không xảo trá.


Trên trình bày một số tướng mang tính biểu tượng tiêu biểu, trong phạm vi bài này không thể đề cập nhiều hơn. Tuy nhiên cũng đủ cho ta thấy ngoài các nghĩa thông thường, các tướng tốt còn có ý nghĩa sâu xa hơn và cao đẹp hơn.


Vẻ đẹp hình thể của đức Phật


Nếu bỏ qua một bên tướng tốt có tính cách bất định do các bộ phái ghi nhớ không chính xác, hoặc thêm bớt tùy tiện, bỏ qua một bên các tướng tốt có tính chất biểu tượng tôn giáo và sự tôn sùng của các đệ tử, ta có thể hình dung đức Phật là một đấng nam nhi cao ráo đẹp đẽ, cân đối, oai nghiêm thay đổi thái độ, đón tiếp Ngài nồng hậu, khi Ngài lên tiếng thì mọi người đều bị chinh phục hoàn toàn. Theo các kinh điển, hình tướng đẹp đẽ của Ngài đã đóng góp rất nhiều trên con đường hoằng hóa. Thanh niêm Vakkali con của một vị trưởng giả, đến nghe Phật thuyết pháp, nhìn thấy thân tướng đẹp đẽ của Ngài, Vakkali không nghe gì cả và chỉ chiêm ngưỡng thân tướng của Phật mà thôi, sau đó xin xuất gia để được gần Phật. Có lần đức Phật buộc Vakkali phải ở cách xa tịnh thất của Ngài, Vakkali buồn rầu, thất vọng và muốn tự tử. Nhân đó đức Phật giảng giải về sự vô thường của xác thân tứ đại, nhờ đó Vakkali giác ngộ. Quần chúng cũng vậy, họ ái mộ và đi theo Ngài chưa hẳn nhờ vào tài thuyết pháp của Ngài, mà còn nhờ vào thân tướng và phong cách đẹp đẽ siêu tuyệt của Ngài.


32 tướng tốt của đức Phật được các kinh tạng Nam truyền và Bắc truyền nói đến rất phong phú. Điều đó khẳng định nét đặc thù trong đức tánh và đức tướng của đức Phật và cũng đem lại niềm hứng khởi cho các nghệ nhân cũng như các đệ tử về sau. Càng ngày hình ảnh của đức Phật được tái tạo, được tô điểm thêm do lòng kính trọng vô biên của đệ tử, hình ảnh của Ngài dần dần được siêu nhiên hóa. Thời kỳ Phật giáo Đại thừa phát triển, thân tướng của Ngài trở thành đối tượng triết học, hay trở thành biểu tượng của lý tưởng qua thuyết Tam thân Phật: Pháp thân – Báo thân – Ứng thân.


Dù cho thân tướng của Ngài được quan niệm như một người thường hay bậc thánh siêu nhiên, thì sự kính ngưỡng, lòng thành tín của con người đối với Ngài không thay đổi. Bởi lẽ ai cũng thấy được rằng giá trị của đức Phật không phải ở thân tướng mà ở sự giải thoát mà giáo lý của Ngài đem lại.


Con đường dẫn đến chân lý đã được mở ra, niềm hạnh phúc, sự giải thoát sẽ đến với những ai nỗ lực vươn tới, qua thực nghiệm chứ không phải qua sắc tướng như kinh Kim Cang đã nói: Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.


(BNĐT)



Những tướng tốt kỳ lạ của Đức Phật

Wednesday, August 21, 2013

Tại sao tháng cô hồn lại gặp điều xui?

Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.



Tháng cô hồn là một cụm từ khiến rất nhiều người dị ứng, không chỉ có dân kinh doanh mà ngay đến công chức, sinh viên cũng tỏ ra ái ngại. Rất nhiều lời truyền tai “không nên làm cái này cái kia” khiến nhiều người phải rợn da gà.


Chúng tôi có cuộc trao đổi với GS, TS Phạm Đức Dương (chuyên gia về Ngôn ngữ dân tộc và Đông Nam Á học) về nguồn gốc tháng cô hồn cũng như cách giải thoát sự lo âu của mỗi người.


GS.TS Phạm Đức Dương

GS.TS Phạm Đức Dương


Thưa GS Phạm Đức Dương, xin giáo sư cho biết nguồn gốc của tháng cô hồn được lưu truyền trong dân gian?


Nói về nguồn gốc của tháng cô hồn trong dân gian, truyền thuyết có kể lại rằng, vào ngày này trước đây, Bồ tát Mục Kiền Liên đã cứu mẹ ra khỏi kiếp quỷ đói. Chính từ truyền thuyết này mà ngày lễ Vu Lan cũng được sinh ra, trở thành ngày để tưởng nhớ công ơn sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ.


Chuyện kể rằng, Bồ Tát Mục Kiền Liên vốn là một vị cao tăng thần thông quảng đại, hiếu nghĩa vô cùng. Khi mẹ của ông là bà Thanh Đề qua đời, ông nhớ mẹ da diết và cố gắng đi tìm mẹ.


Vì khi còn sống mẹ ông gây nhiều nghiệp ác nên khi chết đi, bà phải làm quỷ đói và bị hành hạ rất thương tâm. Thương mẹ, ông đem cơm đến dâng mẹ, tuy nhiên cứ khi nào đồ ăn được dâng tới tận miệng thì chúng lại hóa thành than lửa, mẹ ông không tài nào ăn được.


Bồ tát khẩn thiết kêu van xin Phật tìm cách cứu mẹ, lúc đó ông được biết ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp để mang đồ cho mẹ ăn và ông đã cứu mẹ thành công. Và đó chính là sự tích của lễ Vu Lan. Lễ Vu lan Rằm tháng 7 là một trong những ngày trọng đại và thiêng liêng nhất của Phật giáo.


Không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước thuộc châu Á coi tháng 7 âm lịch và đặc biệt là ngày Rằm tháng 7 là ngày chỉ dành cho người cõi âm, người đã chết, chết oan uổng, chết bất đắc kỳ tử, không có người thờ cúng.


Người ta cho rằng, trong suốt tháng này những vong hồn từ dưới địa ngục sẽ vảng vất, xuất hiện ngay tại dương gian. Rằm tháng 7 hay còn gọi là lễ Xá tội vong nhân trùng với lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ.


Bản chất của ngày Rằm này rất nhân bản, là lòng yêu thương con người với con người. Ngày có ý nghĩa mọi người tưởng nhớ, tỏ lòng biết ơn với tổ tiên, nó giống như lễ Vu Lan, những người con hướng về mẹ vậy.


Nhiều người truyền miệng nhau rằng vào ngày Rằm này thì những linh hồn người chết ở dưới địa ngục sẽ được giảm tội, cửa địa ngục sẽ mở để cho họ về thăm người thân.


Hành động của mọi người rất nhân văn được thể hiện là bên cạnh việc thắp hương thờ cúng tổ tiên, rất nhiều gia đình còn cúng cô hồn, họ cầu nguyện cho những linh hồn sa cơ, những vong linh ẩn dật thân cô thế cô, không nơi nương tựa được siêu thoát.


Nhắc tới tháng cô hồn, không ít người cho rằng đó là khoảng thời gian đen đủi, làm gì thua nấy, chơi cũng khó, làm chẳng xong thậm chí sức khỏe bị yếu đi nhiều… Giáo sư nghĩ sao về quan niệm này?


Vì mục đích rất nhân văn như đã nêu trên nên không thể nói rằng thời điểm này là đen đủi, xui xẻo như nhiều người tâm niệm. Đúng là hiện nay có không ít người quan niệm rằng tháng cô hồn này đen đủi, không nên dựng nhà, sửa cửa, đám cưới… Tôi cho rằng những quan niệm này không đúng và hoàn toàn không có cơ sở.


Vì sự hiểu sai nên có không ít người thất bại trong công việc, rất dễ hiểu đó là khi tâm lý họ không cố gắng, ái ngại thì thành công lại khó có thể với tới. Có không ít người cho rằng do quy luật thiên nhiên, đây là tháng ngâu, mưa gió thất thường, đúng lúc đó tinh thần con người không sáng suốt, hành động sai ảnh hưởng tới cuộc sống, luận điểm này không sai và có thể chấp nhận được song chỉ đúng với thời tiết miền Bắc.


Hiện nay, mọi người đang truyền tay nhau về 18 điều cấm kỵ, nhiều điều nghe rất đáng sợ ví dụ như không để chuông gió trước đầu giường dễ thu hút ma quỷ tới nhà quấy nhiễu, đi đêm không được gọi tên thật, không được chụp ảnh buổi tối bởi dễ chụp… cùng ma. Người trẻ đứng trước “lời răn” này họ sợ vô cùng, ông nghĩ thế nào về tâm lý của họ?


Có kiêng có lành, nhiều người nghĩ như vậy và thực hiện theo, họ thấy khi thực hiện những điều đó họ thấy yên tâm. Thực tế, việc kiêng kỵ thì ở dân tộc nào cũng có, đất nước nào cũng có dù là nước tiên tiến, hiện đại nhất. Kiêng ở một góc độ nào đó nó đã giúp tâm lý con người được vững tâm.


Từ xưa đến nay, trong văn hóa tâm linh của hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có những tập tục kiêng kỵ nhằm có được may mắn, tránh vận xui rủi. Tuy nhiên, việc kiêng kỵ cũng chỉ mang tính chất tương đối. Mọi người có thể có được đức tin song không nên sa đà vào mê tín. Nhiều khi chính sự sa đà sẽ khiến họ vuột mất cơ hội tốt.


Ông có lời khuyên gì dành cho mọi người trước vấn nạn mê tín thái quá này?


Thực ra ngày nào, tháng nào cũng như nhau, nếu chúng ta sống bằng tâm, đức, không lừa lọc dối trá thì không cần thiết phải lo lắng, sợ hãi thời điểm này. Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.


Xin cảm ơn giáo sư!


(BIFN)



Tại sao tháng cô hồn lại gặp điều xui?

Clip "Ru Mẹ" khiến cư dân mạng rơi nước mắt

Những ngày qua, cư dân mạng truyền tay nhau clip “Ru mẹ” như một cách chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, lòng biết ơn với đấng sinh thành trong dịp lễ Vu Lan năm nay.



Tuesday, August 20, 2013

Kỳ lạ hành động đốt bao cao su vào rằm tháng 7

Từ xa xưa, rằm tháng 7 được gọi là ngày xá tội vong nhân và cũng là ngày các cô hồn được người trần cúng lễ. Bởi vậy, trên dương thế, mọi gia đình đều làm cỗ cúng gia tiên đồng thời đốt vàng mã và phóng sinh.



Song, đi cùng mặt trái thị trường, việc đốt vàng mã và phóng sinh đã bị người ta lạm dụng, đi quá giới hạn tâm linh.


Tiền tỉ bay theo tàn tro


Mùa lễ Vu Lan ở Hà Nội năm nay bắt đầu từ rất sớm. Ngay những ngày đầu tháng 7 âm lịch, trên các đường phố đã xuất hiện nhiều gánh hàng rong bán quần áo, mũ mão thần linh. Con phố Hàng Mã, Lương Văn Can… oằn mình chứa bao thứ hàng mã và đón những dòng người đến đông như đi hội.


So với năm trước, năm nay, giá cả các mặt hàng vàng mã đều đắt hơn gấp 2-3 lần bởi giá nguyên vật liệu (giấy, phẩm), công vận chuyển tăng (xăng, dầu tăng). Ví như năm trước: một chiếc ti vi giấy có giá 20 nghìn đồng thì nay là 45 nghìn đồng.


 


Người dân không tiếc tiền để sắm vàng mã trong các dịp lễ, rằm.

Người dân không tiếc tiền để sắm vàng mã trong các dịp lễ, rằm.


Tính sơ sơ, nếu sắm đủ bộ lễ dành cho người đã khuất: quần áo, nón mũ, dép guốc, tiền vàng, ti vi, xe máy, nhà cửa… thì phải mất 300- 400 nghìn đồng.


Có không ít người bỏ tiền ra chơi trội, muốn người đã khuất phải được “hưởng thụ” những đồ đạc mà trần gian đang thịnh hành. Đa phần họ không bao giờ mua ở những gánh hàng rong, hay những quầy trong chợ mà vào hẳn nơi sản xuất đặt cho đúng ý nguyện.


Họ có hàng ngàn lí do bỏ tiền triệu mà mình dày công kiếm được để rước những đồ rởm hóa cho người đã khuất. Bà Giang ở phố Lãn Ông đã về “lò” vàng mã ở Yên Hòa tìm đặt cho ông chồng già quá cố chiếc ô tô thể thao Chevrolet Corvette Z06 hiện rất “hot” trên thị trường với kích thước, kiểu dáng y như xe thật.


Theo bà thì lúc ông còn sống gia đình nghèo khó, xe máy chẳng có mà đi. Nay ông thác, bà muốn ông “nở mặt, nở mày với ông bà tiên tổ”, tậu hẳn xe trị giá 1,5 triệu đồng cho ông “đáng mặt anh tài”! Và bà cũng không quên “thửa” cho ông chiếc bằng lái xe mang tên ông có dấu triện đỏ để dưới âm ty, ông khỏi bị cảnh sát tuýt còi (!).


Một chị có cậu con trai chưa qua tuổi đôi mươi đã bị Diêm Vương lôi đi khi bị dính AIDS. Lễ Vu Lan cũng là ngày con trai chị tổ chức “sinh nhật” đầu tiên dưới suối vàng. Theo chị tâm sự thì con trai chị có tính lăng nhăng, chơi bời, trác táng.


Chị không muốn ở dưới địa ngục, con bị mắc AIDS một lần nữa nên đã quyết định tặng con trai mình… vài chục gói bao cao su bằng giấy!


Không phải kẻ lắm tiền nhiều của mới chơi sang, mà có người nhà nghèo nhưng vẫn đi vay mượn vài trăm nghìn của người thân cố sắm những vật dụng đắt tiền đốt cho người chết.


Tất cả thành tro bụi để rồi ngày hôm sau họ phải chắt chiu từng đồng bạc lẻ trả nợ. Nếu biết như vậy, người âm chỉ còn biết khóc cho những việc làm ngớ ngẩn của người trần thế.


Những năm qua, các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh rất nhiều về vấn nạn này. Tệ đốt vàng mã đã gây ra sự lãng phí lớn về mặt kinh tế cho xã hội. Năm nay, giá vàng mã cao hơn năm ngoái do giá nguyên liệu tăng chóng mặt.


Tuy vậy, sức tiêu thụ mặt hàng này không hề giảm, đồng nghĩa với việc có hàng trăm tỉ đồng sẽ bị thiêu rụi trong dịp rằm tháng bẩy này. Nếu trung bình mỗi gia đình đốt 20 nghìn tiền vàng mã, với 13 triệu gia đình thì chỉ một mùa lễ Vu Lan, nước ta đốt khoảng 260 tỷ đồng. Món tiền quá lớn đối với một nước nghèo.


Thảm cảnh chim bị hành hạ vì…. phóng sinh


Không chỉ đua nhau đốt vàng mã tràn lan, nhiều người còn lạm dụng phóng sinh. Tại dọc đường Hoàng Hoa Thám, Lạc Long Quân… những ngày rằm tháng 7 đông đúc hơn bao giờ hết. Ngoài các loại chim trời như bồ câu, khuyên, chào mào, chích chòe, sáo, vẹt, yểng… có nhiều loại quí hiếm như: hỏa tiễn, quế lâm, khướu…được bày bán la liệt, công khai.


Phần lớn đây là chim bẫy được ở các cánh rừng từ khắp nơi như Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hóa… được dồn về Hà Nội. Để kêu gọi lòng từ bi để kiếm tiền, nhiều ông chủ chim còn không ngại treo bảng mời gọi: Số phận của những con vật này chính là số phận của các bạn, các bạn hãy tranh thủ làm việc thiện (?!)


Phóng sinh hay hành hạ chim?

Phóng sinh hay hành hạ chim?


Rằm tháng 7 chính là dịp để các chủ hàng bán chim được dịp hốt bạc. Người đàn ông bán chim khoe: “Những ngày này, trung bình cửa hàng tôi bán hàng trăm con chim các loại, như chủ yếu là bồ câu, chim én, chim sẻ giá từ 20-100 nghìn/ tùy loại.


Nhưng có nhiều đại gia mua hẳn khướu bạc má, họa mi, cu gay có giá khoảng 500 -700 nghìn đồng/con ”. Cả những con ốm đau, dặt dẹo, tôi đều “đẩy” được hết”.


Một ông chủ chim khác có gần hai chục con chim bồ câu, con bị xích chân, con bị trói cổ, con bị xách chổng ngược đầu xuống đất, được bán lẻ từng con với cái giá 60 nghìn đồng/ con. Người ban chắc giá, người mua eo xèo: “Bán gì mà đắt thế, tôi mua phóng sinh chứ có ăn đâu”.


Ở phiên chợ chim nhộn nhịp không khí bán mua này, chẳng có ai đến đây thưởng chim và cũng chẳng có một tiếng chim hót nào, chỉ thấy tiếng đập cánh xao xác, khô khốc vào nan lồng. Người bán chim cắm cúi cắt cánh chim, để khi được phóng sinh, chim không thể bay xa hoặc không cất nổi cánh.


Sau khi nghi lễ phóng sinh hoàn tất, những người này lại bắt lại những con chim nhốt vào lồng để… bán cho người khác. Khi có người đến mua chim, sau khi hỏi số lượng cần mua, người phụ nữ bán chim đưa tay vào cái lồng đen đặc, hốt từng nắm bỏ vào chiếc lồng khác để bán.


Lũ chim quằn quại, giãy giụa giẫm đạp lẫn nhau, lông lá bay tung tóe. Trong số đó, có con bị thương, nằm thoi thóp cam chịu bị đè bẹp. Có những bầy chim nhốt lồng lâu ngày, không ai mua. Người bán để bầy chim chết đói, chết khát rồi quăng ra đường.


Kết


Có cung thì có cầu, việc phóng sinh đã vô tình tạo thành một chuỗi cung ứng hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế thị trường. Có người mua chim tất sẽ nhiều người đặt bẫy bắt chim. Thế là những chú chim bay lượn tự do trên không trung liên tục bị sa lưới.


Chim bắt về bán cho những người đi chùa phóng sinh. Trước cảnh những con chim bị bắn hạ, “tù đầy”, ốm yếu, chết chóc, không ít người cho rằng cần phải nhìn nhận đúng việc phóng sinh. Người tâm không thiện, mua chim khiến kẻ khác vì hám tiền đi lùng chim trời về bán, lấy cớ để phóng sinh, thì càng trọng tội hơn.


Thầy Thích Quảng Thiện – trụ trì chùa Bụt Mọc (Đông Anh, Hà Nội) nhắn nhủ: “Phật dạy mình đừng có cùm kẹp mà để cho các loài vật được tự do. Còn về nghĩa bóng, phóng sanh là phóng thích những cái tâm ô uế như cái tâm tham, cái tâm đố kị, cái tâm hơn thua, cái tâm thù hận… ra khỏi con người mình để mình được tự do.


Khi mình phóng những cái đó đi rồi, mình được tự do thì những người khác gần mình cũng được tự do. Tự nhiên cuộc sống sẽ trở nên bình yên. Còn mình để những cái tâm đó trong lòng thì những người gần mình cũng sinh ra thù hận, tạo ra cho họ sự thù hận. Ý nghĩa sâu xa của việc phóng sanh trong đạo Phật là như vậy chứ không phải là mua mấy con chim, con cá rồi đem đi phóng sanh”.


Có lẽ, đã đến lúc cần phải triệt tiêu cái nghề phá hoại môi sinh, môi trường này. Lẽ nào làm phúc, phóng sinh lại là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ buôn bán, kiếm lợi trên sự sống của loài vật khác?


(BPLVN)



Kỳ lạ hành động đốt bao cao su vào rằm tháng 7

Monday, August 19, 2013

Mùa Vu Lan: May áo cho người đã chết

Những năm sau khi cô tôi mất, bà thường nhìn thấy cô hiện về vào những ngày trước rằm tháng Bảy. Cô đứng trước cửa buồng bà và nói một câu duy nhất: “Khi nào con cưới, u bán thúng thóc mua cho tấm chiếc áo, u nhé”.



Có những câu chuyện về người đã chết mà đôi khi ta gọi là chuyện ma nhưng sự thật là một điều gì đó mà ta không làm sao giải thích được. Nhưng những câu chuyện ma như thế không làm cho người sống sợ hãi mà lại dựng lên một cây cầu huyền bí và da diết giữa những người còn sống với người đã chết. Câu chuyện về cô ruột tôi là một câu chuyện như thế.


8


Cô tôi mất năm 16 tuổi. Cô mất trước ngày cưới chỉ có năm ngày. Đó là một ngày mùa đông mưa phùn rét buốt. Cô đi mò hến ngoài sông Đáy về bị cảm lạnh và mất. Ngày đó, làng quê nhà nào cũng đói. Vào những ngày mùa đông thì cơn đói càng khủng khiếp hơn. Người làng tôi tìm mọi thứ có thể ăn được để đi qua cơn đói. Sông Đáy là con sông nhiều hến nhất trong tất cả những con sông chảy qua đồng bằng Bắc bộ. Người làng tôi đã đi qua những ngày đói khủng khiếp bằng hến sông Đáy. Hến nấu cháo ngô, nấu với thân cây chuối, nấu với dọc cây khoai ngứa… nghĩa là nấu được với cây gì củ gì thì nấu để ăn.


Cái chết của cô làm cho bà nội tôi ốm liền mấy tháng trời. Đêm nào bà cũng khóc và hờ tên cô. Bà kể, nhà tôi nghèo quá, từ khi cô sinh ra cho đến lúc mất bà chẳng may được cho cô lấy một tấm áo. Nhưng mấy tháng trước khi cưới, cô năn nỉ bà: “Khi nào con cưới, u bán thúng thóc mua cho tấm chiếc áo, u nhé”. Bà gật đầu hứa với cô mà nước mắt đầm đìa.


Từ ngày đó, bà để dành dụm từng đấu thóc không dám ăn. Thóc chỉ được xay nấu cháo cho ai trong gia đình bị ốm. Hoặc đến ngày giỗ thì xay đấu thóc nấu bát cơm cúng người đã chết. Còn tất cả phải ăn rau, ăn củ ngày ngày. Nhưng bà quyết giữ gìn từng đấu thóc để đến ngày cưới cô sẽ bán đi mua cho cô một tấm áo lành lặn trước khi về làm dâu nhà người. Bà tôi đau đớn vì cô mất mà không đi đến ngày cưới của mình được. Nhưng bà đau đớn hơn và không biết bao giờ có thể nguôi được nỗi đau đó khi cô chết mà không được nhìn thấy tấm áo mà cô ao ước suốt những năm tháng còn sống.


Những năm sau khi cô mất, bà thường nhìn thấy cô hiện về vào những ngày trước rằm tháng Bảy. Cô đứng trước cửa buồng bà. Những ngón tay cô tím tái vì lạnh. Hai tay ôm trước ngực, người cô run lên, nước sông trên mái tóc dày và nặng của cô vẫn nhỏ xuống từng giọt và đọng trên nền đất hiên nhà nơi cô đứng. Bà khóc gọi cô, bà bảo cô vào nhà để bà đốt đống lửa cho cô sưởi nhưng không bao giờ cô bước thêm một bước.


Cô chỉ đứng đó và nói với bà một câu duy nhất: “Khi nào con cưới, u bán thúng thóc mua cho tấm chiếc áo, u nhé”. Nói xong cô từ từ bỏ đi. Ngày đó, đúng là người ta không đốt vàng mã như bây giờ. Suốt những năm tháng ấu thơ tôi không một lần nhìn thấy bà hay mẹ đốt vàng mã. Nếu như bây giờ, chắc bà sẽ sắm đầy đủ quần áo cho cô.


Cứ như thế, hàng năm, vào trước ngày rằm tháng Bảy, cô tôi lại hiện về đứng trước cửa buồng bà và xin bà may cho cô một tấm áo mới. Thi thoảng bà cũng nói cho tôi biết cô hiện về. Những lần đầu nghe chuyện đó, tôi sợ vô cùng. Nhưng rồi bao câu chuyện về cô khi còn sống mà bà kể đã tạo thành một sợi dây vô hình mà thiêng liêng nối cô với tôi.


Nhiều đêm tôi đòi ngủ với bà để khi nào cô hiện về thì bà gọi tôi dậy để tôi được nhìn thấy cô. Thế nhưng chẳng lần nào tôi được nhìn thấy cô. Có lúc tôi đã khóc dỗi bà vì bà đã không gọi dậy khi cô về. Sau này lớn lên đi học ở thành phố thì tôi lại không tin có chuyện cô hiện về nữa. Tôi hiểu là vì bà thương nhớ cô quá mà tưởng tượng ra vậy.


9


Sau nhiều năm bà tôi nhìn thấy cô hiện về và chỉ nói mỗi một câu “Khi nào con cưới, u bán thúng thóc mua cho tấm chiếc áo, u nhé” thì mẹ tôi quyết định may cho cô một tấm áo vải nâu, cổ tròn, cúc bấm và chiết ly. Và vào ngày rằm tháng Bảy năm đó, mẹ tôi đã sắp một mâm cơm cúng cô. Sau khi tàn nén hương, mẹ mang chiếc áo ra cánh đồng và mai táng chiếc áo xuống cạnh mộ cô. Mẹ thắp hương trên mộ cô rồi khấn: “U đau yếu không ra thăm mộ em được, u và chị may cho em chiếc áo mới và mang cho em. Cả nhà mong em siêu thoát”.


Thật lạ lùng là từ rằm tháng Bảy sau đó, bà tôi không thấy cô hiện về đứng trước cửa buồng của bà run rẩy vì đói lạnh. Bà bảo cô đã có áo mới đi chơi với bạn bè rồi nên không về thăm bà nữa. Mấy năm sau bà mất. Tôi cũng lớn lên. Lúc đó tôi hiểu là do mẹ tôi đã may áo cho cô nên bà đỡ đau khổ và ân hận nên không còn tưởng tượng cô hiện về xin áo nữa. Những năm sau này, người ta dùng vàng mã mỗi ngày một nhiều. Vì thế mà cứ đến rằm tháng Bảy mẹ tôi lại mua quần áo vàng mã cho cô.


Một ngày rằm tháng Bảy, tôi về quê. Trong bữa cơm hai mẹ con tôi lại nhắc đến chuyện cô tôi thuở trước và việc cô hiện về xin bà may cho chiếc áo. Tôi đem sự hiểu của mình về việc bà nhìn thấy cô hiện về nói với mẹ. Tôi nghĩ mẹ tôi, một bà giáo, sẽ đồng tình với sự giải thích của tôi. Nhưng nghe tôi giải thích xong, mẹ nói: “Cô con về thật. Bà nhìn thấy cô con về xin áo là có thật”.


Nói xong mẹ kể cho tôi nghe một chi tiết liên quan. Đã hai lần bà gọi mẹ vào khi thấy cô về. Mẹ chạy vội vào buồng bà. Bà nói với mẹ là cô tôi đang đứng trước cửa nhưng mẹ không nhìn thấy gì. Bà gắt: “Em nó đứng kia mà mẹ mày không nhìn thấy à? Người nó ướt hết cả, nước chảy đầy dưới chân đấy”.


Lúc đó mẹ mới bình tĩnh nhìn xuống nền đất nơi bậc cửa. Mẹ bàng hoàng nhận ra ở đó có một vũng nước nhỏ và không biết từ đâu vẫn có những giọt nước nhỏ xuống vũng nước. Khi bà bảo cô đi rồi thì mẹ mới dám bước ra phía cửa. Mẹ nhìn thấy trên nền đất hiên nhà có những vết chân ướt đi từ phía vũng nước ra. Từ lúc đó, mẹ hoàn toàn tin cô về thật. Nhưng chỉ có bà mới nhìn được cô. Mẹ bảo vì bà thương cô nhất và đau khổ vì cô nhất nên đã nhìn thấy đứa con gái yêu thương và bất hạnh của mình.


Và một sự thật tôi muốn nói với các bạn rằng: khi bà tôi không nhìn thấy cô nữa và khi tôi tin cô hiện về thật thì từ đó tôi lại thường xuyên gặp cô, đó là trong những giấc mộng. Tôi nhìn thấy cô mặc chiếc áo bà và mẹ tôi may cho cô và lướt qua ngôi nhà. Lúc nào cô tôi cũng nở một nụ cười đằm thắm. Và những lúc như thế, tôi thấy lòng mình xúc động và ấm áp lạ lùng.


(BVNN)



Mùa Vu Lan: May áo cho người đã chết

Thực hư về cái gọi là "trùng tang"

Trùng tang là một hiện tượng mà từ trước tới nay vẫn luôn được thêu dệt một cách huyền bí, mang màu sắc tâm linh rõ rệt và thể hiện “quyền lực” siêu nhiên không giới hạn của con người ngay cả khi đã… chết. Vậy “trùng tang” có thật hay không và nên hiểu nó như thế nào trên cả hai phương diện khoa học duy tâm và duy vật?



Những cái chết “liên trận kỳ hồi”


Cách đây hơn một năm, nhiều tờ báo đưa tin về trường hợp “trùng tang” ở quận Tây Hồ, Hà Nội rất đáng sợ. Đó là một gia đình trong một ngày xảy ra 2 cái chết của bố chồng và nàng dâu cách nhau chưa đến 5 tiếng đồng hồ. Điều đáng nói là người con dâu đang khỏe mạnh bình thường, vẫn còn đang tất bật chuẩn bị “hậu sự” cho bố chồng thì bỗng nhiên đột tử vì cảm. Để tránh không chôn cất cùng một giờ, hơn nữa, chưa được “giờ đẹp” nên người bố “hạ huyệt” trước, sau đó người con dâu mới được khâm liệm và hạ huyệt sau.


Khỏi phải nói gia tộc đó hoảng sợ đến mức nào, nhất là người con trai cả đồng thời cũng là chồng của người vợ quá cố. Anh rất lo lắng cho đứa con trai độc nhất 15 tuổi và cả bản thân mình. Vì người ta bảo nhà anh bị “trùng tang”. Từ trước tới nay anh có biết “trùng tang” là gì đâu, hơn nữa, những chuyện như vậy chẳng khi nào anh quan tâm do không biết thực hư thế nào. Nhưng khi trong gia đình mình cùng lúc 2 cái chết của bố và vợ thì anh hoảng hồn thực sự, đến nỗi ai bảo gì anh làm nấy để gọi là tránh chuyện tương tự xảy ra.


Chùa Hàm Long ở Bắc Ninh, được cho là nơi nhốt

Chùa Hàm Long ở Bắc Ninh, được cho là nơi nhốt “trùng” lớn nhất Việt Nam


Như gia đình trên đây, thì một gia đình ở ngay phố Ngọc Hà, quận Ba Đình cũng xảy ra những cái chết tương tự. Chỉ khác là gia đình này, trong vòng 3 năm, 2 người con trai duy nhất trong gia đình đều “đi” theo bố và “đi” một cách “bất đắc kỳ tử”. Người bố sau một thời gian bị bệnh nan y thì qua đời khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Nỗi đau của những người trong gia đình chưa qua thì chỉ sau cái lễ 100 ngày của ông ít hôm, lại đến con trai trưởng của ông mất. Cái chết của anh ở tuổi “vẫn còn đang xoan” không chỉ khiến cho người ta thương tiếc mà còn làm cho câu chuyện về “trùng tang” được tin nhiều hơn và thêu dệt nhiều hơn.


Đêm hôm trước, anh vẫn còn ngồi quán nước và nói chuyện oang oang về thế sự, không một chút biểu hiện của người đau ốm, bệnh tật. Thế mà sớm hôm sau, khi vợ gọi anh dậy để đỡ chị dọn hàng bán đồ ăn sáng như mọi khi, anh đã mãi ngủ không bao giờ dậy. Liên tiếp 2 cái chết xảy ra trong vòng hơn 3 tháng, tưởng như gia đình anh không thể gắng gượng được.


Vậy mà chưa hết, 2 năm sau, người con trai út đang phơi phới tuổi xuân bỗng dưng một chiều đi làm về kêu mệt, vào giường nằm rồi mất lúc nào cũng không ai biết. Cả gia đình nhộn nhạo, hoảng loạn. Không ai có thể giải thích được nguyên nhân vì sao chỉ trong thời gian ngắn mà cả 3 người đàn ông trong nhà đều ra đi ngoài lý do duy nhất: “Trùng tang”. Và trùng tang như thế được gọi là “trùng tang liên táng”.


Ngày “kiếp sát”


Vậy trùng tang là gì?


Thực ra, từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng tang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm. Ngay cả, Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này, mặc dù đây là “hồn cốt” của thế giới tâm linh. Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.


Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái chết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng tang”. Còn nếu không thì không phải. Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người mất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng tang”.


Cách tính “trùng tang” theo “Phật pháp bách vấn” thì như thế này: Đối với những người tuổi thân, tý, thìn nếu mất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng tang, còn được gọi là ngày “kiếp sát”. Tức là những tuổi đó “kỵ tỵ”. Mà đã ‘kỵ tỵ” thì những người tuổi thân, tý, thìn càng không được an táng vào ngày tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi dần, tuất, ngọ kỵ hợi; tuổi tỵ, dậu, sửu kỵ dần; Hợi, mão, mùi kỵ thân.


Còn cách tính ngày trùng là chẳng hạn, ngày dần, tháng dần, năm dần, hay ngày thân, tháng thân, năm thân… cũng được gọi là ngày “trùng”. Ngày “trùng” này không tính riêng cho một tuổi nào mà bất kỳ người tuổi nào mất vào ngày “trùng” cũng “kỵ”.


Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng tang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ) thì mới biết người quá cố có “trùng tang” hay không. Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng tang”. Hoặc những người tuổi tý, ngọ, mão, dậu nếu mất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng tang”…


“Lực siêu nhiên” hay tình cờ?


Tuy nhiên, việc “trùng tang” có thật hay không hay chỉ là sự ngẫu nhiên tình cờ?


Mặc dù là thế giới tâm linh đầy huyền bí và cũng có hẳn cách tính ngày “trùng tang” nhưng Phật giáo lại quan niệm về “trùng tang” như thế này: Sống chết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định, có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ mất cũng như chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác…”.


Trên cơ sở khoa học, GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân, những nhà vật lý thuộc Hội Vật lý Việt Nam cũng đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề này đã lý giải theo cách của mình.


Mà cách lý giải ấy rất giống với những kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương – nhà vật lý học nổi tiếng – từng giải thích hiện tượng “trùng tang” theo lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng: “Trong mối quan hệ giữa người chết bị “trùng tang” và người bị “trùng bắt” không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số khác nhau nhiều nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.


Còn TS Đỗ Kiên Cường, một người rất am hiểu về những khả năng tiềm ẩn của con người, về những cái gọi là “thế lực siêu nhiên”… đồng thời là tác giả của rất nhiều bài viết lý giải về vấn đề này dưới góc độ khoa học cho rằng: “Trùng tang” đơn giản chỉ là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó, bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này đơn giản có thể hiểu là: “Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra”.


Như vậy, với những cách giải thích trên đây, mặc dù chưa có cách giải thích nào có thể chứng minh theo kiểu “tai nghe mắt thấy” nhưng rõ ràng “trùng tang” chỉ là một quan niệm “siêu thực”, xuất phát và tồn tại trong tín ngưỡng, thế giới tâm linh của con người. Và khi đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian, thế giới tâm linh của con người thì nhận định như nhà văn hóa Trần Lâm Biền “cần gì phải biết đúng – sai; thực – hư mà cứ để nó như vậy. Duy chỉ có điều không được khoác lên nó, thêu dệt xung quanh nó màu sắc mê tín dị đoan”.


Còn cách “hóa giải” trùng tang như Phật giáo khuyên: “Vì là tập tục đã ăn sâu vào tâm thức mọi người nên trong tinh thần phương tiên, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phúc hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để “âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm của Phật giáo”.


Còn để “trấn an” tinh thần của những người còn sống, dân gian có cách “giải” trùng tang là: dùng các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào một cái túi rồi đặt trong quan tài người chết. Hoặc có thể dùng bộ linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên ngực, hoặc lót dưới quan tài… Bộ linh phù này được biết ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh có bộ ván in khắc phù giải đã có mấy trăm năm nay. Người dân có thể đến đây nhờ các sư thầy tư vấn mà không nên lập đàn tế lễ tốn kém, gây hoang mang cho người còn sống…


(BPTT)



Thực hư về cái gọi là "trùng tang"

Saturday, August 17, 2013

Tự tử trên sông Hồng - chuyện kể nhân ngày xá tội vong nhân

Những đợt mưa cứ nối nhau đổ nước xuống trần gian. Tháng Bảy về rồi! Ông Ngâu, bà Ngâu gặp nhau, nước mắt chảy thành sông. Tháng này nhà nhà nhớ tới những người đã đi xa, đặc biệt là những vong hồn đã bỏ mình trên khắp cõi nhân gian.



Đâu đâu cũng tổ chức cúng tế các vong hồn, xá tội vong nhân, cầu mong những vong hồn được siêu thoát về cõi Niết bàn. Có biết bao nhiêu vong hồn bỏ mình nơi chiến trận, trong những tai nạn giao thông trên bộ, trên sông? Cũng có những người chỉ vì những suy nghĩ tuyệt vọng nhất thời mà tìm đến cái chết.


Cầu Thăng Long - nơi nhiều người tuyệt vọng đã gieo mình tự tử.

Cầu Thăng Long – nơi nhiều người tuyệt vọng đã gieo mình tự tử.


Cầu Thăng Long và chuyện ám ảnh về trụ cầu số 6


Ở Hà Nội, từ khi có những cây cầu Thăng Long, Chương Dương bắc qua sông Hồng thì những cây cầu này là nơi không ít người muốn từ giã cõi đời chọn làm nơi gieo mình.


Cầu Chương Dương còn có tổ CSGT ngăn chặn được nhiều vụ nhảy cầu, còn cầu Thăng Long thì dài quá, mà có tới 2 tầng, nên những vụ nhảy cầu ở đây thường vô phương cứu chữa.


Những bảo vệ ở trạm gác bên bờ Bắc cầu Thăng Long kể lại: Nơi trụ số 6 về phía bờ Bắc là nơi những người quyên sinh thường chọn để nhảy cầu. Không biết ở đó có ma xui quỷ ám gì không? Nhưng những người tự tử thường hay chọn chỗ này lắm! Thường thì họ đi xe máy đến giữa cầu, rồi để xe máy còn cắm khoá và nhảy xuống sông.


Mùa này nước to, chênh lệch giữa thượng lưu và hạ lưu rất lớn, khi nhảy xuống gặp xoáy nước thì người bơi giỏi cũng bị xoáy nước cuốn đi ngay. Mà lạ, xe máy và đồ dùng của những người tự tử, để lại trên cầu không ai dám động vào. Từ các con nghiện đến mấy tay đầu trộm đuôi cướp, khi nhìn thấy xe của người nhảy cầu đều dựng thẳng chân chống giữa và báo cho bảo vệ cầu, tuyệt đối không dám động đến xe cũng như bất cứ đồ vật gì còn để lại.


Mà đối tượng nhảy cầu thì ngày càng đa dạng: Làm ăn thua lỗ, nợ nần, thất tình và đủ thứ lý do để những người tuyệt vọng tìm đến cái chết.


Có cậu thanh niên bị bố mẹ mắng, tức mình nhảy xuống sông mấy ngày mới nổi; có ông bố buồn vì con thi trượt đại học cũng ra giữa cầu gieo mình xuống sông; có cô bé tuổi “teen” xin tiền mua điện thoại di động bố mẹ không cho, ấm ức quá cũng nhảy xuống sông.


Những người nhảy xuống sông thì thật nhẹ nhàng, “tùm” một cái là xong. Nhưng khổ cho những người sống. Những người để lại địa chỉ, số điện thoại của gia đình để liên lạc còn đỡ, nhiều người không để lại gì, làm gia đình phải đi tìm hết ngày này sang tháng khác, hễ nghe tin ở đâu vớt được xác chết là tìm đến để nhận dạng. Có gia đình khi tìm thấy thì hình hài đã biến dạng.


Người hai bên sông kể lại, khu vực thượng và hạ lưu cầu Thăng Long vào mùa nước hay có xác người trôi về. Khu thượng lưu cầu, phía trước đình Chèm, tương truyền gia đình nào có người chết sông thường sắm lễ vào xin với Đức ông rất linh nghiệm, nếu xác từ thượng nguồn, thường dạt vào quanh khu vực đình.


Ở đây, có mấy gia đình sống dưới thuyền chuyên bán đồ ăn thức uống cho tàu bè qua lại trên sông. Những thuyền này thường xuyên chứng kiến cảnh những người nhảy cầu, nhưng cũng không thể cứu được, có thể vì lời nguyền sông nước, nhưng muốn cứu những người nhảy cầu cũng khó có thể thực hiện được vì sông rộng mênh mông, khoảng cách quá xa không thể ứng cứu kịp thời. Họ thường làm nhân chứng và đứng ra thuê mò tìm xác người xấu số.


Việc tìm kiếm quanh cầu Thăng Long thường do bà con chài lưới phường Phú Thượng, Q.Tây Hồ đảm nhiệm.


Họ là những đàn ông, đàn bà quen với sông nước, với những lưới quét, lưỡi câu chùm. Theo chỉ dẫn của nhân chứng, họ nương theo dòng chảy và rà. Cứ 2 thuyền 1, rà từ thượng nguồn tới hạ lưu, rồi lại rà ngược lên. Cứ cần mẫn cả ngày.


Họ yêu cầu người nhà, những người nào thân và hợp với người xấu số ngồi trên thuyền vừa khấn vừa gọi tên, để người dưới sông biết người nhà đang tìm, mau về với gia đình. Họ không cho những người thường xung khắc với người xấu số ngồi cùng thuyền tìm kiếm. Họ bảo “vong” sẽ giận không chịu về.


Không biết quy định này có linh nghiệm không? Nhưng, phần lớn những người đi tìm là người thân và gần gũi, nên dù vất vả, cuối cùng cũng thường tìm.


Việc tìm kiếm đã vất vả, việc đưa xác vào bờ mới là trần ai. Nếu đưa xác lên thuyền thì gia đình phải mua chiếc thuyền đó, vì chiếc thuyền đó coi như bỏ! Khổ thân tang quyến, tìm thấy người thân rồi mà lênh đênh giữa sông mặc cả với ông vạn chài thì biết trông vào ai? Nhiều gia đình phải bấm bụng trả tiền với giá trên trời để đưa được người thân lên thuyền.


Nhiều bà con dân chài thương cho hoàn cảnh gia đình, đề xuất dìu lên bờ, họ chỉ lấy tiền tắm rửa thay quần áo thôi – gặp được những người như thế là may mắn lắm!


Đừng tuyệt vọng! 


Việc đưa xác lên bờ còn trần ai vất vả hơn. Hai bên bờ sông Hồng giờ đã trở thành khu dân cư cả rồi, đưa vào bờ nào cũng bị xua đuổi, vì các làng đều không muốn cho người chết sông đi qua làng mình vì sợ xui xẻo, đến đâu cũng bị từ chối. May mắn lắm mới tìm được vạt cỏ hay ruộng rau của ai đó, đưa lên rồi trả tiền cho người ta.


Những tưởng tìm được xác, đưa lên bờ là có thể gọi xe đưa về nhà lạnh, lo thủ tục tang lễ, nhưng không! Ông nhà tang lễ hỏi xác nhận của công an đâu? Phải có xác nhận của công an họ mới chở! Người nhà khi đó mới cuống cuồng đi báo công an.


Cơ quan công an vào cuộc xác minh, kiểm tra xác định đúng là chết đuối, người nhà phải làm tường trình, trả lời các câu hỏi của công an, rồi còn phải làm đơn xin với pháp y không mổ xác nếu không có gì nghi vấn. Sau đó còn chờ đại diện Viện Kiểm sát đến kiểm tra và cho ý kiến cuối cùng. Khi đó cơ quan công an mới xác nhận. Cuối cùng nhà tang lễ mới cho xe vào chở xác. Đến lúc đó thì tại nơi để tử thi, những người hiếu kỳ đã xúm đen xúm đỏ vừa xem vừa bình luận với đủ mọi giả thuyết trên trời dưới biển.


Những người nhảy cầu đã về với sông với biển. Họ ra đi thật nhẹ nhàng. Chỉ khổ cho những người còn sống, phải gánh biết bao hệ luỵ từ cái chết của họ.


Sau tang ma còn phải làm lễ cúng để gọi hồn từ dưới sông lên trở về nhập mộ, để vong hồn được siêu thoát, không lang thang gây tai ương cho người khác. Chưa hết, những người còn sống phải hằng ngày chịu đựng những đàm tiếu của người đời còn đeo đẳng mãi không thôi.


Một mùa Xá tội vong nhân nữa lại về! Những vong hồn đang được gia đình và đồng loại nhớ đến và cầu siêu cho hồn an lành nơi chín suối. Cuộc đời ai cũng có cái kết cục của riêng mình. Những giây phút tuyệt vọng, những nông nổi, kể cả oan ức… rồi cũng đều sẽ qua đi!


Ngày hôm nay không trách ngày hôm qua! Chỉ mong sao những người đang sống mà đang có ý định từ giã cõi đời này, hãy cân nhắc biết yêu quý cuộc sống của mình đang có, không có gì con người không thể vượt qua được!


Được sống ở trên đời, được vui, buồn, hờn, giận là hạnh phúc lắm lắm của mỗi người chúng ta! Hãy đừng vì 1 phút tuyệt vọng, thiếu nghĩ suy mà từ bỏ cõi đời này, làm khổ những người thân yêu với những nỗi đoạn trường tôi đã viết ở trên đây.


(BLĐ)



Tự tử trên sông Hồng - chuyện kể nhân ngày xá tội vong nhân