Showing posts with label chuyện ly kỳ. Show all posts
Showing posts with label chuyện ly kỳ. Show all posts

Wednesday, March 12, 2014

Ly kỳ chuyện "rắn thần" có... mào đỏ chót

(Kênh 13) – Xuất phát từ những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn liên quan đến “rắn thần” xuất hiện, người dân tại một số địa phương đã lập miếu thờ, đền thờ để cầu mong bình an.


Rắn thần có mào (Ảnh minh họa)

Rắn thần có mào (Ảnh minh họa)


Đó là câu chuyện mà bấy lâu nay người dân xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên vẫn thường đồn thổi.


Ông Lê Văn Thử (sinh năm 1932) người đã trông coi ngôi đền thiêng Long Khánh Tự dưới chân núi Tam Đảo miếu hơn 40 năm qua khẳng định đây là câu chuyện thật: “Tôi đã trông coi ngôi đền đó từ năm 1968 đến năm nay. Năm 1997, khi có dự án làm hồ chứa nước Vai Miếu vì ngôi đền nằm chính giữa chân đập nên phải di chuyển về vị trí khác.


Trong thời gian trông coi đền đã hai lần tôi vào thắp hương và gặp đôi rắn mào ngự trên cung ở trong đền khi đó là vào tháng 2/1968. Ban đầu khi nhìn thấy hai con rắn tôi cũng rùng mình nhưng hai con rắn rất hiền lành, không dữ tợn khi có người xuất hiện, sau khi thắp hương làm lễ xong thì đôi rắn đó biến mất”.


Năm 1998, để phục vụ việc xây dựng hồ chứa nước Vai Miếu, dòng họ Nguyễn đã làm lễ di chuyển đền thờ Thần Rắn về vị trí Gò Bãi Dứa

Năm 1998, để phục vụ việc xây dựng hồ chứa nước Vai Miếu, dòng họ Nguyễn đã làm lễ di chuyển đền thờ Thần Rắn về vị trí Gò Bãi Dứa


Kể về sự tích xuất hiện của đôi rắn có mào, ông Lê Lâm Thao, một người được coi là pho sử thi của làng kể lại:


“Không biết cái tên Gành Đá Sập có từ bao giờ nhưng từ khi tôi lớn lên thì đã nghe các cụ kể lại truyền thuyết đầy ly kỳ. Ngày xưa, người dân nơi đây vẫn con nghèo lắm, có khi đến tết mà nhiều gia đình muốn luộc bánh nhưng không có nồi. Tương truyền, người dân thường đến của hang Gành Đá Sập nhắm mắt lại đọc một câu thần chú, đọc xong câu thần chú mở mắt ra thì thấy một chiếc nồi đồng từ hang đá trôi ra, người dân  mượn nồi về luộc bánh xong lại mang đến cửa hang để trả”.


Một lần có người dân nơi đây không có nồi để luộc bánh có đến cửa hang Gành Đá Sập đọc câu thần chú để mượn nồi về dùng nhưng sau đó tham lam lại không mang nồi trả lại. Trời đất nổi giận rồi cho một hòn đá to phía trên hang sập xuống kín miệng hang, từ đó người dân nơi đây không có ai mượn được nồi từ hang Gành Đá Sập.


Nhưng người dân lại luôn thấy có một đôi rắn quấn quýt như vợ chồng thường xuyên xuất hiện từ trong hang bơi ra tắm phía vực bên ngoài, một lát lại bơi vào trong hang. Khi chưa làm hồ thì đây là nơi ở của đôi rắn mào.


Theo như câu chuyện của các cụ cao niên trong làng thì rắn có mào là loài rắn thần, có nguồn gốc rất thần bí. Rắn chỉ xuất hiện ở những nơi linh thiêng hoặc những nơi đất lành…


Cho đến nay, câu chuyện về miếu Long Thần vẫn được người dân xã Uy Nỗ rỉ tai nhau một cách kính cẩn và hoang mang sợ hãi.


Hay một câu chuyện vẫn được người dân Đông Anh – Hà Nội truyền tai nhau về một chàng trai biến thành rắn sau khi khâu miệng “rắn thần” có mào. Chưa biết thực hư thế nào nhưng người dân làng Kính Nỗ đã lập miếu thờ “thần rắn” và vô cùng cung kính trước vị thần này.


Tại làng Kính Nỗ (Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội), người dân đã xây một ngôi miếu thờ “rắn thần” có mào.


Miếu thờ này đã được xây dựng sau khi ông Nguyễn Văn Thảo, người làng Kính Nỗ bắt được con rắn màu xám to bằng bắp tay, trên đầu có cái mào đỏ chót như mào gà.


Ông này khâu miệng rắn lại rồi đem ra chợ bán nhưng chẳng dám mua. Nhìn cái mào đỏ chót trên đầu, họ đều bỏ chạy. Theo họ, rắn có mào là rắn đã thành tinh, rất linh thiêng nên họ khuyên ông Thảo thả rắn ra.


Không bán được rắn, ông Thảo đem về cây đa đầu làng, chỗ ông bắt được rắn để thả. Tuy nhiên, vì luống cuống, ông quên cắt chỉ khâu miệng rắn.


Sau đó, con trai ông Thảo đột nhiên phát bệnh lạ, không nói không rằng, cứ bò trườn khắp nhà như rắn. Lúc ngủ thì cuộn tròn như rắn. Mang cơm không ăn, anh ta chỉ đòi ăn trứng gà sống.


Lúc bị “ma nhập”, anh này thường xuyên bảo: “Ta là rắn thần đây, sao chúng mày dám khâu miệng ta lại?”.


Một bà thầy bói xem song sợ quá bảo Thần Rắn đã nhập vào người anh này và yêu cầu ông Thảo phải xây một ngôi miếu thờ Thần Rắn.


Miếu thờ

Miếu thờ “rắn thần” tại làng Kĩnh Nỗ luôn có trứng gà.


Làm theo lời thầy bói, ông Thảo đã xây miếu thờ “rắn thần” ở ngay gốc cây đa. Xây miếu xong, con trai ông Thảo không biến thành rắn nữa. Hàng ngày, ông và nhân dân thờ cúng, đặt trứng gà, món ăn yêu thích của “thần rắn” vào trong miếu.


PV



Ly kỳ chuyện "rắn thần" có... mào đỏ chót

Friday, January 17, 2014

Chuyện ly kỳ về bò tót ở Việt Nam

(Kênh 13) – Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, Việt Nam có trên 3.000 con bò tót phân bố ở hàng chục tỉnh khắp ba miền Bắc – Trung – Nam.

Là loài thú hung dữ, có tầm vóc khổng lồ, hầu như không có thiên địch và được xem là biểu tượng của sức mạnh, sự cường tráng ở nhiều quốc gia, thế nhưng, bò tót vẫn là loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cao do bị lâm tặc và cả người dân giết hại.


Bò tót ở vườn quốc gia Phước Bình.

Bò tót ở vườn quốc gia Phước Bình.


Bò tót giương oai khắp chốn


Ở chốn rừng sâu Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên, từ khoảng cách chừng 80m, qua ống nhòm chúng tôi quan sát đàn bò tót gồm 8 con đang nhởn nhơ gặm cỏ. Bò đực lông màu đen bóng, bò cái màu nâu sẫm, còn con non màu nâu vàng. Bò đực hay cái đều có sừng to, chắc, cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt và hướng về phía trước.


Chiều dài trung bình của sừng bò đực lên tới trên 80cm, sừng bò cái ngắn, nhỏ và uốn cong hơn. Đầu bò to, trán dẹt hơi lõm, giữa hai gốc sừng có một chỏm lông màu vàng. Ở cả bốn chân, từ khuỷu trở xuống có màu trắng ngà, trông giống như đi tất trắng.


Bò đực cao hơn 2m, nặng hàng tấn, bò cái thấp hơn khoảng 20cm và có trọng lượng bằng 2/3 con đực. Theo bách khoa toàn thư thì bò tót là loài thú lớn thứ hai trên cạn về tầm vóc và chiều cao, chỉ xếp sau voi. Về khối lượng, bò tót đứng thứ tư, sau voi, tê giác trắng và tê giác Ấn Độ. Với vóc dáng khổng lồ, con đực không mang cục u trên lưng như bò nhà mà có hẳn một sóng cơ nổi lên chạy dài dọc sống lưng đến quá bả vai và một cái yếm lớn trước ngực trông đầy uy lực.


Đầu bò tót phát hiện trong một vụ án ở tỉnh Ninh Thuận.

Đầu bò tót phát hiện trong một vụ án ở tỉnh Ninh Thuận.


Tôi mon men tiến gần hơn về phía đàn bò tót, hy vọng rút ngắn bớt khoảng cách để có thể chụp ảnh. Nhanh như cắt, người dẫn đường bám theo, kéo tôi về vị trí cũ. Dẫu chưa chụp được tấm nào nhưng bù lại tôi nghe được tiếng thở phì phò của nó. Nhìn qua ống nhòm, chúng tôi thấy con đầu đàn phồng mũi, găm sừng xuống đất và mắt long lên sòng sọc. Dường như nó ngửi thấy hơi người nên vội thủ thế để lao lên tấn công.


Anh Chung Giáo Đức, hướng dẫn viên VQG Cát Tiên, kể cách đây hơn hai năm, khi đi tuần tra ở khu vực đồi đất đỏ (thuộc địa bàn huyện Định Quán, Đồng Nai), anh Quách Đức cùng một cán bộ khác của VQG Cát Tiên phát hiện đàn bò tót. Khi anh đưa máy ảnh lên để chụp thì một con lao tới đá và quật khiến anh bị đa chấn thương, bể bẹ sườn, xương mông… Nhờ được cấp cứu kịp thời và điều trị hiệu quả nên anh dần hồi phục nhưng khả năng vận động kém trước nhiều.


“Bò tót dữ tợn và hung hăng lắm. Nghe tiếng súng nổ, bò rừng hoảng loạn chạy trốn nhưng bò tót sẵn sàng tấn công nếu phát hiện nơi ẩn nấp của cánh thợ săn”, anh Chung Giáo Đức nói.


To lớn, tinh nhạy và hung dữ, bò tót hầu như không có thiên địch, ngoại trừ hổ. Tuy nhiên, chỉ những con hổ cường tráng, tinh ranh, lọc lõi mới dám đối đầu với bò tót. Người dân sinh sống tại thôn Bạc Rây 2 (xã Phước Bình, Bác Ái, Ninh Thuận) – vùng đệm VQG Phước Bình cũng thường xuyên sợ hãi, bất an khi con bò tót đen trũi, nặng gần một tấn có lẽ do bị bầy đàn tẩy chay nên tìm đường xuống núi để ve vãn, giao phối với bò cái trong các đàn gia súc.


Nhiều cán bộ và người dân cảnh báo chúng tôi chỉ nên quan sát từ xa chứ đừng lại gần vì con bò tót này đã húc bị thương ba người. Đầu tiên, nó quật chết con bò đực giống rồi đuổi theo húc trọng thương cậu bé chăn bò mới 10 tuổi tên là Pinăng Biếp. Kế đến, một người dân bị rượt đuổi, đạp toác cả da đầu khi tiến lại gần nó và dùng điện thoại chụp ảnh…


Bò tót thường xuyên xuất hiện trên nương rẫy hung hăng kéo sụp chòi canh; quật đổ ngổn ngang và giẫm đạp tơi bời cây trái, hoa màu khiến nhiều người hoảng sợ. Bà con chỉ dám lên rẫy vào ban ngày, đến khi mặt trời sắp khuất núi thì vội vã trở về nhà để tránh bị bò tót tấn công. “Có những lúc bò tót theo bò cái nhà về tận thôn Bạc Rây 2 khiến nhiều người sợ mất vía, phải sang thôn khác ngủ nhờ”, anh Nguyễn Thành Tích nói.


Săn đầu bò tót


Từ duyên nợ của chuyến lội bộ băng rừng mấy chục cây số lần theo dấu chân tê giác và bò tót ở rừng già Cát Tiên mười mấy năm về trước, tôi được các cán bộ kiểm lâm tín nhiệm chia sẻ thông tin liên quan đến thú hoang dã; cho tháp tùng nhiều chuyến vây bắt lâm tặc, đánh úp các nhà hàng kinh doanh thịt thú rừng… Qua đó càng xót xa cho bò tót, là loài mãnh thú nhưng trước hòn tên mũi đạn, cũng bất lực và đáng thương như bao loài thú nhỏ bé, hiền lành như khỉ, voọc, culy, chim chóc.


Súng săn do Kiểm lâm Lâm Đồng tịch thu.

Súng săn do Kiểm lâm Lâm Đồng tịch thu.


Chấn động nhất là vụ sát hại 2 con bò tót ở Khu bảo tồn (KBT) Ea Sô (huyện Ea Kar, Đắk Lắk) vào cuối tháng 1/2003. Giám đốc Sở Công nghiệp TP.HCM Võ Thành Long, luật sư Nguyễn Văn Hùng (Đại Hùng), cán bộ Đồn Biên phòng tỉnh Bình Phước Nguyễn Việt Dũng cùng 4 người khác được mở cửa cho vào vùng cấm nghiêm ngặt của KBT để tham quan, kiếm con mang, con thỏ.


Nhưng rồi, hai trong số người đã dùng súng quân dụng bắn chết 2 con bò tót. Đến giữa tháng 7/2005, hai thợ săn khác lại giết hại 1 con bò tót tại KBT này. Khi bị phát hiện, họ đã bắn về phía tổ tuần tra rồi lợi dụng bóng đêm tẩu thoát vào rừng, bỏ lại đầu bò tót dính đầy máu.


Giữa tháng 10/2008, lực lượng kiểm lâm VQG Bidoup – Núi Bà đã mai phục tại TK 142, bắt quả tang Bon Tô Sa Nga (SN 1963) – xã đội trưởng xã Đạ Cháy (Lạc Dương, Lâm Đồng) và Kon Sa Ha Đa (SN 1990) đang vận chuyển đầu bò tót nặng 18kg với cặp sừng rất đẹp từ hướng huyện Bác Ái (Ninh Thuận) lên Lâm Đồng.


Các cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác định con bò này nặng khoảng 700 – 800 kg thuộc đàn bò tót sống ở vùng giáp ranh giữa hai VQG Phước Bình và Bi doup – Núi Bà.


Tháng 6/2012, toán thợ săn cư trú tại xã Nâm N’dir (huyện Krông Nô, Đắk Nông) đã lần theo dấu chân và dùng súng tự chế bắn chết một con bò tót ở KBT thiên nhiên Nam Nung. Quá trình bị khởi tố điều tra, 8 đối tượng đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 5 khẩu súng tự chế.


Tháng 10 cùng năm, phát hiện con bò tót bị sa lầy tại vùng đệm VQG Cát Tiên, nhiều người dân đã hè nhau dùng dao sát hại, xẻ thịt bò tót mang đi bán. 5 trong số 13 người liên quan đến vụ việc này bị tuyên phạt 78 tháng tù.


Tranh luận tại phiên toà, đại diện VQG Cát Tiên cho rằng đây là hành vi vi phạm với mức độ đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức nhưng đại diện Viện Kiểm sát nhận định mức độ tổ chức giản đơn nên cho hưởng án treo.


Hầu như tháng nào các VQG cũng phát hiện tháo gỡ nhiều bẫy thú lớn và tịch thu số lượng đáng kể súng tự chế của lâm tặc. Mức độ sát thương của súng tự chế chẳng thua kém súng quân dụng là bao nhưng về luật thì không thể truy tố các đối tượng được. Đây thực sự là bất cập trong công tác quản lý bảo vệ thú hoang dã và là dấu hiệu rất đáng lo ngại cho số phận của bò tót.


Nạn săn trộm thú quý và chặt phá rừng tràn lan làm chia cắt mạnh lãnh địa và thu hẹp môi trường sống của bò tót khiến nhiều đàn bò bị xóa sổ. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, Việt Nam có trên 3.000 con bò tót phân bố ở hàng chục tỉnh khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Thế nhưng đến giữa thập niên 90 còn khoảng 500 con và hiện tại chỉ chừng trên 300 con, chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và các tỉnh lân cận.


Các vùng khác chỉ còn những quần thể nhỏ trên dưới 10 con. Trong vòng 40 năm mà số lượng bò tót bị giết hại lên đến 90%: Quả là con số ám ảnh về sự suy giảm nghiêm trọng số lượng bò tót ở Việt Nam.


Cùng với việc công bố tuyệt chủng loài tê giác một sừng ở Việt Nam, Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) nhắc lại lời cảnh báo: Quần thể bò tót trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước nguy cơ báo động cao về sự tuyệt chủng.


Bò tót có tên khoa học là Bos gaurus, tên địa phương là con min; là động vật thuộc bộ guốc chẵn, họ trâu bò, sinh sống chủ yếu ở Ấn Độ và một số quốc gia thuộc Đông Nam Á. Là phân loài bò tót có tầm vóc to lớn nhất nhưng bò tót Đông Nam Á lại bị tàn sát nhiều nhất. Hiện một cái mật bò tót giá lên tới 50 – 60 triệu đồng. Sừng từ 5 -7 triệu đồng. Thịt bò tót cũng có giá gấp đôi, gấp ba lần bò nhà nên lâm tặc vẫn rình rập sát hại bò tót hòng thu lợi lớn.


(Trí Thức)



Chuyện ly kỳ về bò tót ở Việt Nam

Wednesday, December 25, 2013

Bí ẩn cụ rùa trong giếng cổ và những chuyện huyễn hoặc quanh ngôi đình thiêng

Từ xa xưa, người dân thôn Đồng Mít, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã xem ngôi đình và giếng cổ của làng như “báu vật”.


Cận cảnh giếng cổ ở Đồng Mít

Cận cảnh giếng cổ ở Đồng Mít


Không chỉ thế, những câu chuyện bí ẩn mang màu sắc “liêu trai”, bí ẩn đến khó tin xung quanh ngôi đình và chiếc giếng cổ nơi cụ rùa trú ngụ đến nay vẫn chưa ai lý giải được.


Những câu chuyện khó tin


Cách trung tâm Hà Nội gần 30km, dọc theo tỉnh lộ 429, chúng tôi tìm về thôn Đồng Mít, xã Đồng Tâm – mảnh đất có truyền thống hiếu học, chăm chỉ cần cù. Đặc biệt hơn trong chuyến đi ngày hôm ấy, chúng tôi đã được các bậc cao niên trong làng kể lại những câu chuyện kỳ lạ về ngôi đình và chiếc giếng thiêng hơn 400 năm tuổi.


Ông Cao Xuân Thiết (SN1944 ), Chủ tịch hội người cao tuổi xã Đồng Tâm, đồng thời là trưởng ban khánh tiết thôn Đồng Mít là người đã chứng kiến những đổi thay xung quanh ngôi đình và chiếc giếng cổ cho hay: Chẳng biết chiếc giếng có từ bao giờ, khi tôi sinh ra và lớn lên, chiếc giếng đã có rồi. Tính đến nay chiếc giếng đã vào khoảng hơn 400 năm tuổi. Trong những năm tháng chinh chiến loạn lạc, chiếc giếng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lấy nước tiêu dùng cho cả làng. Chiếc giếng cổ nằm cách ngôi đình vài trăm mét về phía tay trái.


“Đình và giếng này đã có từ thuở lập làng cách đây hơn 400 năm. Cứ đến ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng các phật tử, người dân và các du khách trong và ngoài thôn vẫn đến đây thắp hương cầu nguyện con cháu hiếu thuận, học hành tiến tới, gia đình làm ăn phát đạt. Hiện tại ở đây đang thờ các vị thần có công xây làng lập ấp, thành hoàng làng, một vị tiên thần có tên là Quế Hoa công chúa thời Vương Mãng giáng trần có công giúp dân đánh đuổi quân xâm lược. Qua đây nhằm giáo dục con cháu cố gắng vươn lên trong học tập để đền đáp công ơn các vị tiền bối ” – Ông Cao Xuân Thiết nói.


Theo các cụ cao niên trong làng và thần phả truyền lại thì hệ thống quần thể trong trong ngôi đình gồm có 4 đạo sắc phong còn nguyên bản, hệ thống các miếu, am thờ các vị thần có công với làng và gần 30 chiếc giếng lớn, nhỏ như giếng Hầu, giếng Tiên (nơi tiên giáng trần tắm rồi về ngự ở đình ), giếng Hàng… Đặc biệt trong số đó là giếng Hàng cụ Rùa đã “ ngự ” hàng trăm năm nay. Nước trong giếng rất trong và mát. Tương truyền là cứ hễ con gái trong thôn Đồng Mít ai tắm dòng nước trong giếng Hàng có cụ Rùa trú ngụ thì có làn da rất trắng và đẹp. Trước đây đã từng có bà Cao Thị Đức và bà Cao Thị Ngân nhờ tắm nước giếng mà trở nên xinh đẹp, đã được tiến cung làm phi tần.


Theo các vị cao niên trong làng kể lại, bao đời nay người dân Đồng Mít khi đi qua ngôi Đình và chiếc giếng cổ đều phải cúi đầu tỏ ý thành kính, nếu trong suy nghĩ có ý báng bổ, mạo phạm thì thế nào cũng bị thần giếng bắt mất hồn. Vào năm Đinh Mùi (năm 47) tại ngôi đình này có 2 vị tướng tên là Đỗ Lang (Đức Thánh Cả) hiện đang thờ tại đình Thượng xã Phúc Lâm và Đặng Thiện Sĩ (Đức Thánh Hai) hiện đang thờ ở thôn Chân Chim đi đánh giặc qua đây trú chân và làm lễ bái yết. Đêm hôm đó, hai vị tướng nằm mộng thấy một người đàn bà tự xưng mình vốn là công chúa trên trời, tên là Quế Hoa. Vị ấy nói: “Nghe tin hai vị tướng quân kéo quân xuống phía Nam dẹp giặc ngoại xâm. Thời gian không thể vài ngày mà xong. Hai vị hãy chuẩn bị quân và lương thực mà dẹp giặc”. Vừa nói xong thì biến mất. Hai vị tướng tỉnh dậy, biết mình vừa được báo mộng nên rất lấy làm vui mừng. Sau đó hai vị tướng quân triệu tập binh sĩ rèn luyện võ nghệ, huy động lương thực và bàn kế sách đối phó với quân giặc. Một thời gian sau, hai vị tướng quân đã đánh đuổi quân giặc ra khỏi bờ cõi giành thắng lợi lớn. Từ đó dân làng lập đền thờ hai vị tướng và vị tiên nữ Quế Hoa công chúa.


Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đình trở thành nơi hoạt động bí mật của nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng địa phương, không hiểu sao giặc Pháp đã đặt mìn, giật đổ khu tiền đường, tuy nhiên khi đặt mìn khu hậu cung đến lần thứ 3 mà mìn vẫn không nổ, chúng đành bất lực bỏ đi.


Bà Trần Thị Mạt ( sinh năm 1933 ) trú tại xóm 10, thôn Đồng Mít chia sẻ: “Cách đây 2 năm, ở trên đỉnh ngọn cây nhãn cạnh giếng Hàng có hai tổ ong rất to bằng cả chiếc nón, mấy đứa trẻ trong làng nghịch ngợm mang lửa đốt và dùng gậy định chọc tổ ong. Trong lúc lũ trẻ đang loay hoay thì bỗng nhiên từ trong tổ ong xuất hiện con rắn to bằng cổ tay thò đuôi xuống, mắt long song sọc làm lũ trẻ hoảng sợ và bỏ chạy. Sợ các cháu mạo phạm đến các Ngài nên chúng tôi đã mang lễ vật đến bên giếng khấn thì bỗng nhiên không thấy rắn đâu nữa. Có lẽ các Ngài hiển linh đấy.”


Ông Cao Xuân Thiết kể cho chúng tôi nghe về những câu chuyện

Ông Cao Xuân Thiết kể cho chúng tôi nghe về những câu chuyện “liêu trai”


Như để chứng minh cho sự linh thiêng ứng nghiệm của ngôi đình và chiếc giếng, bà Phạm Thị Ba (SN 1931 ) trú ở xóm 10, thôn Đồng Mít tiếp lời: “Đình và chiếc Hàng nơi cụ Rùa trú ngụ linh thiêng lắm. Cứ đôi vợ chồng nào hiếm muộn lấy nhau lâu mà chưa có con mà đến đây kêu cầu thì nhất định thời gian sau sẽ sinh con. Điển hình như cặp vợ chồng anh Chung và chị Nhàn thôn Đồng Mít lấy nhau 10 năm mà vẫn chưa có con. Sau khi chạy chữa bằng thuốc cả đông và tây y đều không có hiệu quả, khi nghe mọi người mach nước bèn mang lễ vật đến đình khấn các cụ mong các cụ phù hộ. Đến nay anh chị đã có hai thằng bé kháu khỉnh, ngoan ngoãn. Hiện nay cứ đến ngày mùng 1 và ngày Rằm hàng tháng là hai vợ chồng lại về thăm chùa.”


Bí ẩn cụ Rùa gần 100 năm tuổi


Nói về chiếc giếng Hàng nơi cụ Rùa trú ngụ, ông Cao Xuân Thiết cho biết: “Ngày tôi và em trai tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường dắt anh em tôi ra giếng Hàng trong khuôn viên sân đình để chơi. Mỗi lúc nhìn xuống giếng là lại thấy cụ Rùa nổi lên. Đặc biệt, cụ Rùa rất hiền, mỗi khi có người đến thắp hương và tới xem thì cụ Rùa lại ngoái cổ nhìn lên rất thân thiện. Ước tính tuổi của cụ cũng đến gần 100 tuổi.”


Theo quan sát của chúng tôi, cụ Rùa có chiều dài khoảng 60 cm, đường kính có chỗ to nhất lên tới 30 cm, thân màu xẫm, đầu có 3 sọc trắng, đỏ xen kẽ nhau. Vào những ngày đẹp trời hoặc trong làng có những sự kiện trọng đại như lễ khai ấn, ngày hội thành lập làng là cụ nổi lên hàng giờ. Xung quanh câu chuyện về cụ Rùa hiện vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng.


Cũng chẳng biết từ khi nào “tiếng lành đồn xa” hàng ngàn khách thập phương khắp nơi đổ về đây chiêm ngưỡng để mong được tận mắt nhìn thấy cụ Rùa. Các em học sinh tới đây thắp hương khấn cụ Rùa mong cụ phù hộ học hành đỗ đạt, còn người lớn thì khấn mong làm ăn buôn bán hanh thông nhiều tài lộc. Và thậm chí, cũng chẳng biết từ khi nào có cả những kẻ có đầu óc mê tín dị đoan, nhất là những người có máu cờ bạc, số đuôi, số đề cũng sắm sửa lễ vật đến khấn vái mong cụ Rùa phù hộ độ trì cho nằm mơ thấy số.


Cũng theo lời cụ Cao Xuân Thiết, vào những năm đầu của thế kỷ XX đã thấy xuất hiện cụ Rùa trong giếng. Khi đó đình thôn Đồng Mít khá hoang vu, cây cối rậm rạp. Theo lời ông, ngày đó trong đình có cụ thủ từ Phạm Thi Phiệt là người trông nom, quét dọn đình. Đêm ấy, sau một ngày mệt nhọc vì quét dọn đình, nhổ cỏ ngoài vườn, bà Phiệt nằm ngủ mê mệt. Trong giấc mơ, Bồ tát hiển linh bảo với bà rằng, ngày mai, sẽ có một con rùa vào giếng Hàng của đình để trú ngụ. Bà Phiệt giật mình tỉnh giấc, toàn thân toát mồ hôi. Bà trở dậy, thắp hương trên chính điện. Bà Phiệt tin rằng, Bồ tát hiển linh đã thông báo với bà một tin trọng đại.


Sáng hôm sau, bà Phiệt dậy sớm hơn thường lệ. Rồi bà ngỡ ngàng khi phát hiện có một con rùa rất bạo dạn, băng qua đường nhìn bà rồi từ từ bò xuống nằm gọn dưới giếng Hàng va ngụ ở đó cho tới nay.


Cách đây 3 năm, vào ngày 27/2/2010 trong lúc mọi người đang tấp nập mọi công việc của nghi lễ hô thần nhập tượng thì bất ngờ cụ Rùa từ dưới giếng bò lên nằm ngay trước sảnh của tiền đình “Lúc đó chúng tôi vô cùng hốt hoảng nhưng cũng đã kịp chụp ảnh cụ Rùa bằng điện thoại và phóng lên thành ảnh và đưa vào chỗ trang trọng của đình để treo.”


Lần khác, trong lúc thay nước giếng có người dân tên là Hùng đã mạo phạm lấy tay vuốt vào thân cụ Rùa. Rồi ngay đêm hôm đó, anh này tự dưng bần thần, đôi mắt từ đờ đẫn rồi chuyển sang điên dại, rồi phát khùng phát điên. Trong gia đình xảy ra nhiều chuyện lục đục, đánh chửi nhau suốt ngày. Thời gian sau, gia đình anh Hùng phải đến giếng tạ lỗi với cụ Rùa thì anh mới trở lại bình thường, gia đình hòa thuận êm ấm như xưa.


(Trí Thức)



Bí ẩn cụ rùa trong giếng cổ và những chuyện huyễn hoặc quanh ngôi đình thiêng

Friday, August 30, 2013

Chuyện ly kỳ về ngôi làng bị "ám do lời nguyền"

Từ bao đời nay, người dân thôn Vĩnh Truyền, xã Văn Lang, huyện Hưng Hà vẫn lưu truyền câu chuyện đầy ly kỳ về một lời nguyền làm cả làng bao phen khiếp sợ.



Ao đình làng Chuộn

Ao đình làng Chuộn


Xuôi theo quốc lộ 39A từ thủ đô Hà Nội về tỉnh Thái Bình chừng 100km, chúng tôi có mặt tại thôn Vĩnh Truyền, xã Văn Lang, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để nghe các cụ cao niên trong làng kể lại câu chuyện về ngôi làng “ma ám”.


Thôn Vĩnh Truyền mà người dân trong xã, tổng xưa nay vẫn quen gọi nôm na là làng Chuộn. Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, gắn với cây lúa, củ khoai, sống với nhau tình nghĩa chan hòa. Ấy vậy mà giữa cái chốn bình yên đấy lại chứa đựng những điều lạ lùng đến rợn tóc gáy.


Cho dù hơn hai trăm năm đã trôi qua nhưng dường như bao thế hệ trong làng vẫn tin nếu làm sai sẽ bị lời nguyền ám tới chết…


Sự báo ứng của lời nguyền


Những câu chuyện xung quanh lời nguyền độc vẫn còn đó, các thế hệ cứ rỉ tai nhau để tránh mắc phải lời nguyền mà rước họa vào thân. Thực hư lời nguyền ứng nghiệm với những người phải chết chưa có lời giải đáp nhưng những cái chết của người mà theo người dân trong làng cho là phạm vào lời nguyền ấy trùng hợp khiến người ta không thể không tin.


Để biết rõ hơn thực hư chúng tôi gặp những cụ già cao niên trong làng tìm hiểu về lời nguyền mà bao đời nay người đời vẫn khoác cho nó những chiếc áo thần thánh hay ma mị có vẻ hão huyền ấy.


Ông Vũ Văn Nhuế có lẽ trong số ít người còn biết về lời nguyền này. Năm nay đã ở cái tuổi ngoại bát thập nhưng ông vẫn còn minh mẫn lắm. Những câu chuyện lịch sử làng xã, ông nhớ như in. Thời gian trôi đi từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những câu chuyện tưởng như vô chủ ấy chỉ có dịp khuấy động lên khi có ai vô tình nhắc lại hay một ai đó chết vì “lời nguyền”.


Câu chuyện ông Nhuế kể cho chúng tôi nghe có phần huyễn hoặc nhưng cái kết của lời nguyền đó lại là minh chứng cho lời ông kể là có cơ sở. Theo ông, lời nguyền đó bắt đầu chính từ một người khoa bảng trong làng. Cụ tên húy là Đinh Khắc Tú Bật, sinh ra vốn dòng khoa bảng. Chẳng ai còn nhớ rõ câu chuyện đó bắt đầu từ đâu nhưng ai cũng biết đích danh người ấy chính là cụ tổ dòng họ Đinh Khắc ở làng Ngận (Thượng Ngạn) vốn trước đây bản quán tại làng Chuộn này.


Ông Nhuế cho biết: “Thời phong kiến có lệ, khi làng có người đỗ đạt đến quan nghè, tú tài thì làng phải thiết cỗ, dong cờ trống lên huyện đón kiệu quan về. Các cụ trong làng kể lại, ngày đó dân làng nghèo khổ thiếu ăn liên miên do mất mùa, hạn hán. Người vợ bận con mọn nên không có tiền thiết cỗ rước ông về. Cụ đi về tới ngã ba Giá không thấy người làng Chuộn lên đón. Cụ ấy rút con dao nhọn trong người ném xuống giếng mà nói: làng Chuộn bạc tình lắm, từ nay không về làng Chuộn nữa. Nếu về đất này chết một đời cha, bảy ba đời con…”.


Câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt suốt vài thế kỷ bỗng một ngày trở thành lời nguyền ám ảnh dân làng Chuộn. Thời gian trôi đi, câu chuyện về lời nguyền cứ lan truyền như gió. Mỗi một giai đoạn, một hoàn cảnh nó lại được thêm thắt, tam sao thất bản đi một chút để tới bây giờ ngót 200 năm có lẻ, nó được người dân khoác lên chiếc áo thần thánh.


Theo trí nhớ của ông Vũ Văn Nhuế, người cuối cùng của lớp tuổi bát niên ở làng Chuộn thì lời nguyền truyền kiếp này còn nhiều dị bản nữa. “Có người nói cụ Tú Bật đỗ quan về tới đầu làng không ai ra đón, cụ nghĩ người làng khinh mình ngày ấy nghèo khó, nay đỗ tú tài vẫn chỉ là người dân đen nên tức mình vứt bút nghiên xuống giếng làng mà thề. Do là câu nói cửa miệng, dân gian truyền khẩu mà không ai ghi chép lại nên mỗi nơi một khác”. Ông Nhuế cho biết thêm.


Ông Vũ Văn Nhuế không tin lời nguyền ngày ấy

Ông Vũ Văn Nhuế không tin lời nguyền ngày ấy


Những cái chết bí ẩn được cho là vì lời nguyền


Đem câu chuyện tới nhà ông Đinh Khắc Mấm, trưởng tộc họ Đinh Khắc làng Ngận, thôn Thượng Ngạn, xã Văn Lang, chúng tôi hiểu thêm nhiều điều. Ông Mấm là cháu đời thứ 6 của cụ Tú Bật. Dòng họ Đinh Khắc sang lập nghiệp tại đây đã hơn 10 đời. Dòng họ được đánh giá là nhiều người đỗ đạt nhất thời bấy giờ. Nhiều cụ đỗ quan nghè, tú tài, đồ khóa về làng mở lớp dạy nho.


Ông Mấm cho biết: “Từ bé tôi đã được mọi người trong họ, nhất là các cụ cao niên mỗi lần thanh minh, họp họ là các cụ lại kể cho nghe. Ngôi mộ cụ Tú Bật, người đã đặt ra lời nguyền, vẫn nằm ở khu mộ Đồng Quán tại làng Ngận. Nhờ ngôi mộ cụ mà con cháu phát đường học hành khoa cử. Chúng tôi là bậc hậu bối lại khác làng nên chuyện về lời nguyền báo ứng là chuyện có thật. Nhưng không ai dám chắc đó là do lời nguyền”.


Bao đời nay, người dân làng Chuộn vẫn rỉ tai nhau về những cái chết bất thường mà họ cho là liên quan tới lời nguyền. Nhiều người dân tin vào chuyện thần thánh quả quyết là có sự ứng báo khi trong làng có người phạm phải lời nguyền. Người ta đồn đoán nhau về những người làm quan, làm tướng. Cứ leo lên đến chức lãnh đạo là chết, những cái chết trùng lặp đến lạ lùng về thời gian được bổ nhiệm chức vụ.


Như trường hợp cái chết của ông Đinh Văn Cừ cũng bất thường. Ông chết do bị cảm trong thời gian ông vừa được bổ nhiệm chức chủ tịch xã Văn Lang. Trời tháng 6 nắng như đổ lửa, ông Cừ có việc lên huyện. Khi về qua ao đình thấy lũ trẻ đang tắm, ông xuống tắm cùng để giải tỏa cái nóng nực. Đêm đó ông kêu đau đầu, khó thở. Người nhà đưa lên viện được một ngày thì ông vĩnh viễn ra đi mang theo lời nguyền oan nghiệp. Cái chết của ông Cừ ngày ấy là câu chuyện bàn tán từ đầu làng đến cuối xóm. Người ta bảo ông chết vì lên làm lãnh đạo, phạm vào lời nguyền truyền kiếp (?).


Ông Nhuế kể cho chúng tôi về cái chết của ông Truyền, người con quê hương làng Chuộn thoát ly lên thành phố Hà Nội. Cái chết của ông Truyền một lần nữa làm cả làng một phen sợ hãi khi nghĩ tới lời nguyền đó. Ông Truyền chết khi đang giữ chức phó tổng giám đốc một công ty đóng tàu lớn ở Hải Phòng.


Đang chờ quyết định bổ nhiệm làm tổng giám đốc thì ông ngã bệnh, vài tháng sau ông qua đời. Những cái chết bất thường đối với người dân làng Chuộn càng cho thấy sự nguy hiểm khi đùa giỡn với lời nguyền ấy. Những cái chết trẻ đương độ thăng tiến làm rung động làng quê bao phen.


Người thứ ba “dính” phải lời nguyền là ông Vũ Văn Hóa, giám đốc một công ty xây dựng. Cái chết cũng tương tự như vậy. Lần này từ người mê tín cho tới người coi đó là sự “vớ vẩn” cũng rùng mình. Còn một người may mắn “thoát chết” khi từ chối làm Bí thư tỉnh ủy Lai Châu.


Ông Phạm Văn Hương, gốc người làng Chuộn khi đó đang giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Lai Châu, được mọi người tín nhiệm lên giữ chức bí thư nhưng ông đã “từ chối khéo” bởi bệnh tật. Câu chuyện của ông từ Lai Châu cũng được người dân nơi quê nhà bàn tán đình đám. Người bảo ông sợ bị lời nguyền ám, người bảo ông khôn khéo biết lượng sức mình để an toàn tính mạng.


Theo ông Nhuế, các cụ ngày xưa kể lại, làng Chuộn có thế đất đẹp, bốn phương có long, ly, quy, phụng chầu, là đất học nhưng do con đường 223 chạy cắt ngang địa thế làng Chuộn nên đường công danh của con cháu bị cản trở. “Cứ có người đỗ đạt cao là y như rằng không chết non thì cũng tụt dốc. Truyền thuyết là thế, các cụ bảo thế chứ còn lớp trẻ bây giờ chúng không tin vào điều ấy nữa”. Ông Nhuế tâm sự.


Để tìm rõ thực hư của câu chuyện chúng tôi tiếp tục tìm gặp ông Đinh Văn Phức, Phó chủ tịch UBND xã Văn Lang, thì ông khẳng định: “Chuyện cụ Tú Bật được về bổ nhiệm làm quan ở làng Chuộn là có thật. Thế nhưng chỉ dựa vào những lời nói nóng giận của cụ khi ấy mà dân làng Chuộn xem đó là một lời nguyền thì thật hoang tưởng, mộng mị.


Đến nay những cái chết của người làng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và nguyên nhân về cái chết đó cũng đã được sáng tỏ. Người chết do ung thư, người do bị cảm… những cái chết đều do bệnh tật mang đến chứ không phải do lời nguyền gì cả. Lời nguyền kia chỉ là những lời thêu dệt từ câu nói nhất thời mà thôi. Chính sự cả tin của người dân đã tạo cơ hội cho những kẻ mê tín, buôn thần bán thánh có cơ hội kiếm tiền nhờ vào bói toán”.


(BDV)



Chuyện ly kỳ về ngôi làng bị "ám do lời nguyền"