Showing posts with label Ảnh hiếm về Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Ảnh hiếm về Việt Nam. Show all posts

Friday, August 30, 2013

Gia đình bốn thế hệ may cờ Tổ quốc

Trải qua hơn nửa thế kỷ, đến nay gia đình anh Nguyễn Văn Phục ở xã Lê Lợi (Thường Tín, Hà Nội) là gia đình hiếm hoi có 4 thế hệ nối tiếp nhau theo nghề làm cờ Tổ quốc. Lòng tự hào dân tộc, tình yêu đất nước được họ gửi gắm, “dệt hồn” vào những lá cờ mang sắc màu dân tộc Việt Nam.



Nghề làm cờ Tổ quốc đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và lòng yêu nước

Nghề làm cờ Tổ quốc đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và lòng yêu nước


Cách mạng tháng 8 thành công, cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng mùa thu Ba Đình lịch sử. Rừng cờ đỏ thắm trong ngày độc lập ấy là biểu tượng cho một đất nước anh hùng, quật khởi đấu tranh giành độc lập, tự do lá cờ ấy do những người thợ ở làng Từ Vân may suốt ngày đêm cho kịp ngày khởi nghĩa. Đã hơn nửa thế kỷ, nghề may cờ Tổ quốc vẫn được người làng Từ Vân duy trì. Và trong số ít có những gia đình như gia đình anh Nguyễn Văn Phục, với 4 thế hệ nối tiếp nhau giữ nghề.


Làng Từ Vân, xã Lê Lợi vốn nổi tiếng với nghề thêu từ thế kỷ 16. Chính vì vậy, trước ngày chuẩn bị cho lệnh tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, các nghệ nhân nơi đây đã được Ủy ban Kháng chiến mời làm cờ Tổ quốc. Và rồi, họ làm cờ như một cái “duyên” với đất nước. Họ quyết định bám nghề và sau này những người thợ, nghệ nhân ấy được tuyển vào Hợp tác xã cờ đỏ trên phố Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm chuyên may cờ Tổ quốc.


Về làng Từ Vân, hỏi nhà anh Phục làm cờ Tổ quốc chúng tôi đã được người dân trong làng chỉ đường về tận nhà. Ngôi nhà cấp bốn là nơi gia đình anh Phục sinh sống và cũng là nơi để làm nghề. Anh Phục là thế hệ thứ 4 của gia đình (sau cụ, ông nội và bố) theo nghề này.


Anh Phục kể rằng từ năm 1945 thì gia đình anh cũng đã thêu những lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên tung bay trên bầu trời Việt Nam, trong ngày độc lập (2/9). Đối với mỗi thành viên trong gia đình luôn thấy tự hào về nghề của mình đang làm. Mỗi lá cờ được làm nên là niềm tự hào, mình cảm thấy như đã đóng góp một phần nào đó cho tình yêu đất nước”, anh Phục chia sẻ.


Gia đình anh Phục với 4 thế hệ nối tiếp nhau giữ nghề làm cờ

Gia đình anh Phục với 4 thế hệ nối tiếp nhau giữ nghề làm cờ


Trải qua thời gian, nghề may cờ Tổ quốc ở Từ Vân còn ít người giữ nghề bởi thu nhập thấp. Nhiều nhà chuyển sang nghề may quần áo, thêu các mặt hàng khác, buôn bán, chạy chợ hoặc bỏ nghề. Theo anh Phục, nghề may cờ cũng có cái khó so với các nghề may thêu khác.


Nghề này đòi hỏi kỳ công từ khâu chọn vải, thêu, in, pha màu… cốt làm sao để cờ may xong không chỉ chính xác về màu sắc, tỷ lệ, kích thước mà phải sắc nét, chắc chắn. Loại vải may lá cờ là vải sa mua từ làng La Khê, Hà Đông. Còn tua, chỉ được mua từ làng Triều Khúc. Mỗi nhà có một cách làm riêng. Nhưng cái khó nhất là phải thổi “hồn” vào từng là cờ dù là cờ to hay nhỏ, cờ in hay cờ thêu. So với các nghề may khác thì người làm nghề may cờ Tổ quốc luôn thấy tự hào và sự thiêng liêng.


Chị Đào Thị Duyên (vợ anh Phục) được truyền nghề từ ngày về làm dâu tự hào kể rằng: “ Mới đầu học nghề tôi thấy khó từ khâu chọn vải phẳng, may cờ… Khi thấy những lá cờ đỏ thắm bay phấp phới là trong lòng lại xốn xao khó tả. Làm nghề 14 năm, tôi càng cảm thấy tự hào,vì được góp nên “hồn” cho đất nước, quê hương”.


Nghề may cờ Tổ quốc cũng trải qua thăng trầm. Đã có nhiều lúc gia đình anh Nguyễn Văn Phục tưởng chừng như không giữ nổi được nghề. Thế nhưng, nhớ lời cha ông đã dặn, họ vẫn tìm cách vượt qua khó khăn để giữ nghề và tiếp tục truyền nghề cho con cháu. Tận mắt thấy cháu Nguyễn Thị Thảo năm nay 12 tuổi nhưng đã thuần thục đạp bàn máy may và gấp những đường viền cờ ngay ngắn đã phần nào hiểu được ý thức yêu nghề và quan trọng hơn cả gia đình họ xem lá cờ như một phần cơ thể của chính họ.


Cháu Thảo tự hào “9 tuổi cháu đã may được cờ. Cháu thấy vui và xúc động, vì làm lá cờ này là yêu quê hương đất nước, tự hào về gia đình. Sau này, lớn lên cháu vẫn làm cờ”.


Những ngày lễ lớn của đất nước, dịp lễ Quốc khánh 2/9, những lá cờ đỏ sao vàng, lá Quốc kỳ thiêng liêng do gia đình anh Phục và những người dân Từ Vân may được treo trở lên xúc động hơn bao giờ hết, thể hiện lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc.


BPTT)



Gia đình bốn thế hệ may cờ Tổ quốc

Thursday, August 22, 2013

Kinh hoàng cái chết của Đệ nhất mỹ nhân phủ chúa Trịnh

Thái phi giận quá, đánh đập một hồi, nhỏ nước bọt vào đầu vào mặt, rồi đem giam vào nhà Hộ Tăng. Tại đây, Đặng Thị Huệ bị làm tình làm tội…



Đặng Thị Huệ là người đàn bà nổi tiếng tài sắc và đầy tham vọng quyền lực giàu sang dưới thời chúa Trịnh thứ 9 thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Chính vì đầy tham vọng nên Đặng Thị Huệ đã gây sóng gió trong phủ chúa Trịnh, song kết cục cuối đời lại thật bi thảm.


Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739 – 1782) là vị chúa Trịnh thứ 9 thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam, cai trị từ năm 1767 đến 1782. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Ông là con trưởng của Minh Đô Vương Trịnh Doanh. Năm Ất Sửu (1745), ông được lập làm Thế tử. Trịnh Doanh tỏ ra cẩn trọng việc nuôi dạy con, bổ dụng 2 tiến sĩ là Dương Công Phú và Nguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm.


Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Tháng 10/1758, Trịnh Doanh phong cho ông làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, Thái Úy Tĩnh Quốc Công mở phủ Lượng Quốc và hết thảy công việc triều chính được giao cho Trịnh Sâm làm. Mùa xuân năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi, tiến phong là nguyên Soái Tổng Quốc Chính Tĩnh Đô Vương.


Trịnh Sâm là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán. Từ nhỏ, ông đã học được đến nơi đến chốn: có đủ tài văn võ, đã xem khắp kinh sử và biết làm thơ. Lên ngôi chúa, từ kỷ cương triều nội đến chính sự cả nước, Trịnh Sâm cho sửa đổi lại vì cho rằng phép tắt triều trước là nhỏ hẹp, nay Trịnh Sâm muốn làm to rộng hơn, nên nhiều phần tự quyết đoán, không theo lệ cũ. Thế nhưng đối với các bà vợ trong hậu cung thì ông lại không cai quản được vẹn toàn cho lắm, để rồi cuối đời cũng gánh lấy cái kết bi kịch.


Sử sách chép rằng, người chi phối đến chúa Trịnh Sâm là bà phi Đặng Thị Huệ có nguồn gốc xuất thân nghèo khổ, là cô gái hái chè quê ở làng Phù Đổng, huyện Đông Anh, Bắc Ninh (nay là Hà Nội). Vì có nhan sắc, nói năng nhanh nhẹn, làm việc hoạt bát nên Thị Huệ được phủ Chúa chọn vào làm thị tỳ cho một trong những bà Tiệp Dư của Trịnh Sâm là Trần Thị Vinh. Xét về thứ bậc, Tiệp Dư chỉ là vợ thứ của Chúa, cho nên thị tỳ của vợ thứ chẳng danh giá gì. Tuy nhiên, Đặng Thị Huệ lại khôn khéo tận dụng mọi cơ hội để mở lối tiến thân và đã thành công.


Sau khi vào phủ Chúa, Đặng Thị Huệ vốn khéo ngon ngọt yêu chiều, được Trịnh Sâm coi như báu vật, ngọc ngà. Tình cảm của Chúa đối với Huệ không hề nhạt phai, mà trái lại ngày càng tha thiết, sâu đậm, đắm say. Chúa phong cho Huệ làm Tuyên phi, ban cho bà bao nhiêu thứ quý giá và sẵn sàng chiều theo mọi ý thích của bà, dù nhỏ nhặt nhất. Đặng Thị Huệ rất hay vật vã, giận hờn, kêu khóc khi gặp chuyện trái ý, nhưng Chúa Trịnh Sâm đầy quyền lực thì ngày càng chịu lép vế trước người con gái xinh đẹp quá sắc sảo này.


Sách Hoàng Lê Nhất thống chí chép: “Ả được đặc ân ở chung với chúa, cứ y như một cặp vợ chồng những nhà thường dân. Mọi vật dụng như xe, kiệu, áo quần… đều được sắm hệt như của Chúa. Thậm chí, để chiều lòng người đẹp, Chúa không ngừng dùng ngân khố để làm nên những trò vui mới. Cứ đến dịp trung thu hằng năm, Chúa cho lấy những vật liệu quý trong kho ra làm đèn lồng mỗi cái ước tính khoảng vài chục lạng, và dựng hàng trăm cây phù dung ven hồ Long Trì tại Bắc cung để treo đèn.


Trịnh Sâm còn cho quan lại và phi tần, cung nữ trong phủ chúa mặc sức vui chơi, nhưng cũng không quên phục vụ Chúa và Tuyên phi. Tích này được ví giống Ngô Phù Sai cho xây cung Quán Khuê làm từ châu báu để Tây Thi chơi; rồi còn cho làm Hưởng Điệp Lang – là chiếc guốc có thể kêu leng keng theo mỗi bước chân của Tây Thi.


Có giai thoại rằng, Chúa Trịnh Sâm có ngọc dạ quang, đây là chiến lợi phẩm của một trận đánh phương Nam, nên rất quý viên ngọc này. Trong một lần lấy viên ngọc xem, Thị Huệ lấy tay mân mê viên ngọc, Chúa nói: “Nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc sây sát!”. Thị Huệ bèn ném viên ngọc xuống đất mà khóc rằng: “Làm gì cái hạt ngọc này! Chẳng qua vào Quảng Nam kiếm giả Chúa hạt khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của khinh người như vậy?”. Rồi Thị tự ý bỏ ra ở cung khác, từ chối không gặp Chúa nữa. Chúa phải dùng nhiều cách dỗ dành cho Thị Huệ vui lòng, lúc ấy mới chịu làm lành.


Cũng tương truyền, một lần, có tay truyền giáo người Tây Dương đem theo lọ nước hoa đáng giá mười xe ngọc, Thị Huệ bỏ cơm ba bữa làm Trịnh Sâm phải đồng ý. Lần khác, có người lái buôn mang sang đôi giày đáng giá mười dãy phố, thấy Chúa trù trừ, Thị Huệ leo hẳn lên kỳ đài dọa nhảy xuống tự vẫn, khiến Trịnh Sâm rốt cuộc cũng phải bằng lòng.


Có thể nói, không gì Đặng Thị Huệ không dám đòi, kể cả việc hỏi con gái Chúa là Công nữ Ngọc Lan cho em trai mình là Đặng Mậu Lân, một kẻ nổi tiếng có tính hung bạo, dâm dật và càn rỡ.


Đến âm mưu giành ngôi báu


Khi Đặng Thị Huệ có thai, Chúa Trịnh sai người lễ khắp các chùa để mong sinh con thánh. Năm 1777, Tuyên phi hạ sinh hoàng nam, Chúa yêu dấu khác thường, lấy tên của mình ngày còn nhỏ đặt tên cho đứa bé là Cán, tỏ ra giống mình. Cán được một tuổi đã có tướng mạo khôi ngô và tư chất thông minh. Biết Chúa cưng chiều Cán, Đặng Thị Huệ âm mưu giành ngôi thế tử cho con. Bà tìm được đồng minh là Quận Huy công Hoàng Đình Bảo.


Bấy giờ, Thái phi Ngọc Hoan có con trai là Trịnh Tông. Khi Tông đến tuổi lập phủ, các quan nhắc thì Trịnh Sâm im lặng. Trịnh Tông thấy cha lạnh nhạt với mình và lại biết âm mưu của Đặng Thị Huệ và Quận Huy, liền nhân lúc cha ốm, tìm cách giết Quận Huy, bắt giam hai mẹ con Thị Huệ để tự lập ngôi chúa. Không ngờ Trịnh Sâm lại qua khỏi, việc bại lộ, Trịnh Tông bị biếm truất xuống làm con thứ và bị giam. Từ đó, phe cánh của Đặng Thị Huệ ngày càng lớn mạnh.


Đặng Thị Huệ hối thúc Trịnh Sâm lập Cán làm thế tử và Chúa Trịnh cũng nghe theo, dù Cán mới 5 tuổi. Và nhân thời điểm Chúa Trịnh Sâm bị bệnh trĩ, luôn ở trong cung; Đặng Thị Huệ tự ý xếp đặt công việc, gài tay chân giữ những vị trí then chốt trong phủ Chúa


Cái chết bi thảm của Đệ nhất mỹ nhân phủ chúa Trịnh


Năm Tân Sửu (1781), bệnh tình của Sâm nặng thêm và qua đời. Đặng Thị Huệ thông đồng với Quận Huy lập Cán lên ngôi chúa. Tuyên phi nghiễm nhiên trở thành người điều khiển triều chính giúp con. Lòng người lo sợ, từ phủ Chúa ra kinh thành, thôn dã, ai cũng biết chắc họa loạn sẽ xảy ra. Tháng 10 cùng năm, binh lính Tam phủ nổi loạn, truất ngôi Cán, giáng xuống làm Cung quốc công, đập phá nhà cửa, giết Quận Huy cùng thân thuộc phe cánh. Họ đón Trịnh Tông lên ngôi vương, phong là Nguyên soái Đoan Nam vương. Phe cánh Đặng Thị Huệ bị truy lùng và trả thù.


Lại nói bà Ngọc Hoan bị Trịnh Sâm ruồng bỏ, trở lại nắm ngôi mẫu hậu, đã bắt Đặng Thị Huệ, truất xuống thứ nhân, đánh đập rất tàn tệ, rồi giam vào ngục. Và quãng đời cuối của Đặng Thị Huệ, khi bà đã không còn gì sau cuộc tranh giành quyền lực, điều này có nghi rõ trong sách Hoàng Lê nhất thống chí chép như sau: Khi chúa nhỏ bị bỏ, Thái phi (Dương Ngọc Hoan) liền sai người bắt Tuyên phi hài tội, rồi buộc bà phải lạy tạ. Tuyên phi không chịu lạy, Thái phi bèn sai hai thị nữ đứng kèm hai bên, níu tóc Tuyên phi rập đầu xuống đất, nhưng bà vẫn nhất định không chịu lạy, mà cũng không nói nửa lời. Thái phi giận quá, đánh đập một hồi, nhỏ nước bọt vào đầu vào mặt, rồi đem giam vào nhà Hộ Tăng ở vườn sau. Tại đây, Đặng Thị Huệ bị làm tình làm tội cực kỳ khổ sở.


Một bữa, bà trốn ra khỏi cửa Tuyên Vũ, chạy đến bến đò phố Khách thì bị quân lính đuổi kịp… Sau một thời gian giam giữ ngặt, Thị Huệ được cho làm cung tần nội thị, vào Thanh Hóa hầu hạ lăng tẩm chúa Trịnh Sâm. Ở đây, bà ngày đêm gào khóc xin được chết theo chồng. Đến ngày giỗ của chúa Trịnh Sâm, Tuyên phi uống thuộc độc mà chết, được táng cách Vọng lăng (lăng Trịnh Sâm) một dặm. Cái chết đau buồn như bài học đắt giá để lại cho lịch sử.


(BNĐT)



Kinh hoàng cái chết của Đệ nhất mỹ nhân phủ chúa Trịnh

Wednesday, August 21, 2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và "5 điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh"

Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau 56 ngày đêm chiến đấu ác liệt, chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thắng lợi.



Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).


Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng vào lúc 17h30 ngày13/3/1954, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng vào lúc 17h30 ngày13/3/1954, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.


Mệnh lệnh Tổng công kích Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khối bộc phá 900 kg nổ lúc 20h30 ngày 6/5/1954 trên đồi A1 là hiệu lệnh Tổng công kích của Bộ chỉ huy cho các đơn vị trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Mệnh lệnh Tổng công kích Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khối bộc phá 900 kg nổ lúc 20h30 ngày 6/5/1954 trên đồi A1 là hiệu lệnh Tổng công kích của Bộ chỉ huy cho các đơn vị trên chiến trường Điện Biên Phủ.


Đại tướng theo dõi diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đại tướng theo dõi diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm chiến trường Điện Biên Phủ sau chiến thắng vĩ đại 7/5/1954. Trong một cuốn sách do NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành năm 2010, tác giả Mai Trọng Tuấn tổng kết, trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã xảy ra

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm chiến trường Điện Biên Phủ sau chiến thắng vĩ đại 7/5/1954. Trong một cuốn sách do NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành năm 2010, tác giả Mai Trọng Tuấn tổng kết, trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã xảy ra “5 điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh”


Các chiến sĩ thi đua trong chiến dịch Điện Biên Phủ vui mừng công kênh Đại tướng tại lễ mừng công (ngày 13/5/1954).

Các chiến sĩ thi đua trong chiến dịch Điện Biên Phủ vui mừng công kênh Đại tướng tại lễ mừng công (ngày 13/5/1954).


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng đi thăm thương bệnh binh (1954).

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng đi thăm thương bệnh binh (1954).


(BTTT)



Đại tướng Võ Nguyên Giáp và "5 điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh"