Showing posts with label thông tin đại tướng võ nguyên giáp. Show all posts
Showing posts with label thông tin đại tướng võ nguyên giáp. Show all posts

Monday, October 28, 2013

Ngắm con đường đầu tiên mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngay sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã lên kế hoạch và đặt tên tuyến đường mang tên Đại tướng.



UBND thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) là tỉnh đầu tiên có tên đường mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

UBND thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) là tỉnh đầu tiên có tên đường mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Đó là đoạn đường quốc lộ 51 (thuộc nội ô thành phố) đoạn từ cầu Cỏ May đến vòng xoay đường 3/2.

Đó là đoạn đường quốc lộ 51 (thuộc nội ô thành phố) đoạn từ cầu Cỏ May đến vòng xoay đường 3/2.


Quốc lộ 51 là quốc lộ bắt đầu từ Biên Hòa đến Vũng Tàu qua Long Thành, Tân Thành, thành phố Bà Rịa. Quốc lộ 51 chính là đường Xuyên Á AH1.

Quốc lộ 51 là quốc lộ bắt đầu từ Biên Hòa đến Vũng Tàu qua Long Thành, Tân Thành, thành phố Bà Rịa. Quốc lộ 51 chính là đường Xuyên Á AH1.


Quốc lộ 51 đã được nâng cấp sửa chữa năm 2009 để tránh tình trạng ùn tắc giao thông.

Quốc lộ 51 đã được nâng cấp sửa chữa năm 2009 để tránh tình trạng ùn tắc giao thông.


Đường Võ Nguyên Giáp lấy ý tưởng từ lần Đại tướng về thăm TP Vũng Tàu. Đại tướng đã tắm biển ở Vũng Tàu (năm 1996).

Đường Võ Nguyên Giáp lấy ý tưởng từ lần Đại tướng về thăm TP Vũng Tàu. Đại tướng đã tắm biển ở Vũng Tàu (năm 1996).


Trong thời gian nghỉ dưỡng tại Vũng Tàu, sáng sáng Đại tướng đi bộ rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe.

Trong thời gian nghỉ dưỡng tại Vũng Tàu, sáng sáng Đại tướng đi bộ rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe.


Trong dịp nghỉ dưỡng tại Vũng Tàu, anh Lê Sự, thợ cắt tóc ở địa phương, đã đến số nhà 11 Phan Đình Phùng để cắt tóc cho Đại tướng.

Trong dịp nghỉ dưỡng tại Vũng Tàu, anh Lê Sự, thợ cắt tóc ở địa phương, đã đến số nhà 11 Phan Đình Phùng để cắt tóc cho Đại tướng.


Sơ đồ con đường đi của con đường mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đầu tiên ở nước ta.

Sơ đồ con đường đi của con đường mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đầu tiên ở nước ta.


Đây cũng là một trong những tuyến đường lớn, quan trọng và đẹp nhất của thành phố biển.

Đây cũng là một trong những tuyến đường lớn, quan trọng và đẹp nhất của thành phố biển.


(Đất Việt)



Ngắm con đường đầu tiên mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thursday, October 10, 2013

Xôn xao ảnh huấn luyện bảo vệ chuyên cơ

Bức ảnh được cho là chụp cảnh huấn luyện chiến đấu bảo vệ chuyên cơ chở linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp về an táng tại quê nhà.



Sáng nay (10/10), Fanpage Facebook Vnmilitaryhistory.net đã đăng một bức ảnh chụp cảnh huấn luyện chiến đấu kèm theo dòng chú thích “Chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ chuyên cơ A”.


Bức ảnh được cho là chụp tại một trận địa pháo phòng không, ghi lại cảnh huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chuyên cơ A (có thể là ý chỉ chuyên cơ chở quan chức cấp cao của chính phủ).


Chiến sĩ phòng không cầm kính ngắm quan sát mục tiêu trên không.

Chiến sĩ phòng không cầm kính ngắm quan sát mục tiêu trên không.


Bức ảnh sau khi được đăng tải đã nhận được sự chú ý của cộng đồng mạng. Không ít người xem cho rằng, đây có khả năng là cuộc huấn luyện chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ chuyên cơ chở linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Quảng Bình.


Trước đó, Ban tổ chức lễ Quốc tang, Bộ Quốc phòng, Bộ GTVT và đại diện hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã có cuộc họp bàn phương án vận chuyển thi hài Đại tướng Võ Nguyên Giáp và quyết định sẽ dùng máy bay chở khách ATR 72 để đưa linh cữu Đại tướng về an táng tại quê nhà.


(Kiến Thức)



Xôn xao ảnh huấn luyện bảo vệ chuyên cơ

Xe rước linh cữu Đại tướng có gì đặc biệt?

Xe kéo pháo rước linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc diễn tập sáng nay là loại xe vận tải Ural-4320 do Liên Xô sản xuất.



Trong nghi thức lễ tang các nhân vật quan trọng trên thế giới, linh cữu yếu nhân thường được đặt trên các loại xe như limousine (xe hơi kéo dài), để bên trong hay ngoài xe, có thể kể đến như Quốc vương Sihanouk của Campuchia, Chủ tịch Kim Jong Il của Triều Tiên hay “người đàn bà thép” – Thủ tướng Anh Margaret Thatcher.


Trong khi đó ở Việt Nam, linh cữu yếu nhân nằm trong quan tài bằng kính đặt trên bệ kéo dài của một khẩu pháo được chế tạo chuyên dùng cho nhiệm vụ đặc biệt này. Và được kéo bởi một chiếc xe tải quân sự, điều này khiến cho sự tôn nghiêm của buổi lễ thêm phần hùng tráng.


Loại xe sử dụng cho nhiệm vụ đặc biệt này ở Việt Nam thường là xe tải quân sự đa dụng Zil-131 và Ural-4320, trong khi đó pháo là lựu pháo M30 122mm.


Xe tải quân sự đa dụng Ural-4320


Loại xe tải quân sự Ural-4320 là bản cải tiến từ mẫu xe Ural-375D (ra đời năm 1961). Quá trình thiết kế xe được bắt đầu từ năm 1972 với những nâng cấp như động cơ mới hơn, nắp ca-pô mở rộng cộng với nhiên liệu được thay đổi, hệ thống làm mát và điện được sử dụng bên cạnh nhiều sự thay đổi khác.


Bắt đầu được sản xuất từ năm 1976, Ural-4320 đảm nhận nhiều chức năng trong hệ thống kĩ thuật của Quân đội Nga và nhiều quốc gia trên thế giới, cho tới nay nó vẫn tiếp tục được sản xuất.


Xe vận tải quân sự Ural-4320 (cùng loại với chiếc chở quan tài) trong lễ diễn tập rước linh cữu Đại tướng từ nhà tang lễ ra sân bay vào sáng nay.

Xe vận tải quân sự Ural-4320 (cùng loại với chiếc chở quan tài) trong lễ diễn tập rước linh cữu Đại tướng từ nhà tang lễ ra sân bay vào sáng nay.


Ural-4320 có khả năng vận chuyển 4,5 tấn hàng trên đường địa hình xấu và 6 tấn hàng trên đường tốt, hoặc 27 binh sĩ. Bên cạnh đó là khả năng kéo rơ-moóc hoặc kéo pháo với khối lượng tối là 12 tấn.


Động cơ của Ural-4320 là loại diesel V8 YaMZ-740 10,85 lít cho công suất 210 mã lực. Nhưng hiện nay những mẫu mới được gắn động cơ YaMZ-238M2 cho công suất 240 mã lực. Hộp số 5 cấp với hệ thống truyền động các bánh toàn thời gian, hệ thống tăng giảm áp suất lốp giúp xe vượt qua những cung đường “khó nhằn” nhất, kể cả lội nước sâu 1,75m. Một ưu điểm khác là Ural-4320D có thể hoạt động trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, từ -50 đến 50 độ C.


Trong buổi diễn tập rước linh cữu Đại tướng từ nhà tang lễ quốc gia ra sân bay Nội Bài vào sáng hôm nay, chiếc xe kéo pháo chở linh cữu chính là chiếc Ural-4320.


Xe tải quân sự đa dụng Zil-131


Zil-131 bắt đầu được sản xuất năm 1966 thay cho loại Zil-157 và dây chuyền chế tạo ngừng sản xuất năm 1994 với gần 1 triệu chiếc được “ra lò”.


Về sức mạnh, nó yếu hơn Ural-4320 một chút với khả năng tải 3,5 tấn hàng trên địa hình xấu và 5 tấn hàng trên đường tốt. Bên cạnh đó là khả năng kéo pháo hay các loại rơ moóc tối đa 4 tấn trên địa hình xấu và 6,5 tấn trên đường tốt.


Động cơ của Zil-131 là loại V8 công suất 150 mã lực, hộp số 5 cấp, hệ thống tăng giảm áp suất lốp và hệ dẫn động toàn thời gian. Tuy nhiên, nếu chạy trên địa hình tốt thì trục trước có thể tạm ngắt kết nối để giảm tiêu hao nhiên liệu. Tốc độ tối đa của Zil-131 là 80km/h.


Xe vân tải quân sự Zil-131 trong lễ tang Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Xe vân tải quân sự Zil-131 trong lễ tang Thủ tướng Võ Văn Kiệt.


Zil-131 có các phiên bản như Zil-131V chuyên dùng làm xe kéo, Zil-131D là xe chuyên cấp dầu, nước. Ngoài ra hệ thống pháo phản lực Grad-1 cũng sử dụng Zil-131 làm khung gầm. Bên cạnh đó là phiên bản dân sự, chúng ta thấy rất nhiều với tên gọi Zil-130, nhưng là loại 8 bánh, 4×4.


Trong lễ tang cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 2008, Zil-131 đã được sử dụng để kéo xe đặt quan tài cùng khẩu pháo 122mm. Nhiều khả năng, loại xe này cũng sẽ dùng để đưa linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ sân bay Đồng Hới tới nơi an táng.


Hiện nay, đoàn tàu 16 toa số hiệu HBN2a đã xuất phát từ ga Sóng Thần (Bình Dương) đến Đồng Hới (Quảng Bình) để vận chuyển bộ thiết bị phục vụ lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp (gồm xe chở tiêu binh, xe kéo pháo).


Lựu pháo M30 122mm


Được gia nhập biên chế Hồng quân Liên Xô một thời gian ngắn trước Chiến tranh thế giới thứ 2, M30 là loại lựu pháo 122mm tiêu chuẩn của Hồng quân trong chiến tranh. Sau đó M30 122mm còn được sử dụng đến tận những năm 1980 khi Quân đội Liên Xô chiến đấu ở Afghanistan.


Với tầm bắn 12km, khối lượng gần 2,5 tấn, M30 122mm thực sự là loại pháo lợi hại để tác chiến rừng núi, với chỉ một từ “huyền thoại” mà các binh sĩ Liên Xô dành cho nó khi M30 được thay thế bằng loại D-30 hiện đại hơn sau này.


Lựu pháo 122mm nằm ngay sau bệ đặt quan tài.

Lựu pháo 122mm nằm ngay sau bệ đặt quan tài.


M30 được sử dụng và sản xuất tại nhiều quốc gia trên thế giới, nó cũng được sử dụng làm pháo tiêu binh trong biên chế, bên cạnh chức năng chính là tiêu diệt quân địch trên chiến trường.


Tại Việt Nam, M30 được sử dụng làm pháo hiệu trong các dịp lễ đặc biệt hay trong các lễ tang cấp quốc gia. Đây chính là khẩu pháo đặt ngay phía sau bệ đặt quan tài trên các xe Ural-4320 và Zil-131.


(Kiến Thức)



Xe rước linh cữu Đại tướng có gì đặc biệt?

Wednesday, October 9, 2013

Hình ảnh luyện tập chuẩn bị cho lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hôm nay (10/10) là ngày cuối cùng người dân có thể viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng (30 Hoàng Diệu). Hàng vạn người dân ở nhiều nơi đã tập trung xếp hàng từ sáng sớm để có thể vào viếng vị Đại tướng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.



Hôm nay cũng là ngày ban tổ chức lễ tang diễn tập chuẩn bị cho lễ đưa tang Đại tướng.


Ngày cuối cùng người dân được viếng Đại tướng tại số nhà 30 Hoàng Diệu. Hàng vạn người đã tập trung từ sáng sớm để vào viếng.

Ngày cuối cùng người dân được viếng Đại tướng tại số nhà 30 Hoàng Diệu. Hàng vạn người đã tập trung từ sáng sớm để vào viếng.


7h sáng nhà mới mở cửa để đón khách viếng nhưng dòng người đã xếp hàng dài ra gần Lăng Bác.

7h sáng nhà mới mở cửa để đón khách viếng nhưng dòng người đã xếp hàng dài ra gần Lăng Bác.


Đoàn người kéo dài tưởng như vô tận trước tòa nhà Quốc hội Ba Đình đang được xây dựng.

Đoàn người kéo dài tưởng như vô tận trước tòa nhà Quốc hội Ba Đình đang được xây dựng.


Cho đến tận đường Hoàng Diệu, gần nhà Đại tướng, người dân xếp hàng vòng ngược lại để vào viếng.

Cho đến tận đường Hoàng Diệu, gần nhà Đại tướng, người dân xếp hàng vòng ngược lại để vào viếng.


Nâng niu khung ảnh Đại tướng nhích từng bước một trong dòng người.

Nâng niu khung ảnh Đại tướng nhích từng bước một trong dòng người.


Một đoàn cựu chiến binh cầm di ảnh người Ảnh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam trong lúc chờ vào viếng. Ai cũng rưng rưng xúc động trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một đoàn cựu chiến binh cầm di ảnh người Ảnh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam trong lúc chờ vào viếng. Ai cũng rưng rưng xúc động trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Thanh niên Trường Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên kính viếng Đại tướng một bức tranh in bằng dấu vân tay của các bạn sinh viên trong trường.

Thanh niên Trường Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên kính viếng Đại tướng một bức tranh in bằng dấu vân tay của các bạn sinh viên trong trường.


Người dân đọc những bài báo viết về Đại tướng.

Người dân đọc những bài báo viết về Đại tướng.


Chắp tay cầu khấn Đại tướng trên đường vào viếng.

Chắp tay cầu khấn Đại tướng trên đường vào viếng.


Một số bạn trẻ ở vùng cao xuống Hà Nội viếng Đại tướng từ sáng sớm.

Một số bạn trẻ ở vùng cao xuống Hà Nội viếng Đại tướng từ sáng sớm.


Cả các du khách nước ngoài cũng kiên nhẫn xếp hàng vào viếng người anh hùng của dân tộc Việt Nam đã nổi tiếng toàn cầu.

Cả các du khách nước ngoài cũng kiên nhẫn xếp hàng vào viếng người anh hùng của dân tộc Việt Nam đã nổi tiếng toàn cầu.


Một cựu chiến binh vì tuổi cao sức yếu không thể đứng xếp hàng, được các bạn sinh viên tình nguyện cõng lên trước để vào viếng Đại tướng.

Một cựu chiến binh vì tuổi cao sức yếu không thể đứng xếp hàng, được các bạn sinh viên tình nguyện cõng lên trước để vào viếng Đại tướng.


Đoàn xe diễn tập cho lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp di chuyển trên đường Điên Biên Phủ. Theo lộ trình, đoàn xe sẽ đi ngang qua Lăng Bác rồi trở về nhà riêng trên đường Hoàng Diệu.

Đoàn xe diễn tập cho lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp di chuyển trên đường Điên Biên Phủ. Theo lộ trình, đoàn xe sẽ đi ngang qua Lăng Bác rồi trở về nhà riêng trên đường Hoàng Diệu.


Đoàn xe nối dài trên đường Hoàng Diệu.

Đoàn xe nối dài trên đường Hoàng Diệu.


Xe pháo chở linh cữu Đại tướng chờ trước cổng nhà 30 Hoàng Diệu. Sau đó, đoàn xe sẽ tiếp tục di chuyển ra sân bay Nội Bài để đưa Đại tướng về quê hương Quảng Bình.

Xe pháo chở linh cữu Đại tướng chờ trước cổng nhà 30 Hoàng Diệu. Sau đó, đoàn xe sẽ tiếp tục di chuyển ra sân bay Nội Bài để đưa Đại tướng về quê hương Quảng Bình.


(Petrotimes)



Hình ảnh luyện tập chuẩn bị cho lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hà Nội cấm những đường nào dịp Quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp?

Một số tuyến đường ở Hà Nội sẽ cấm toàn bộ các loại phương tiện lưu thông.



CATP Hà Nội sẽ cấm một số tuyến đường trong dịp Quốc tang

CATP Hà Nội sẽ cấm một số tuyến đường trong dịp Quốc tang


Chiều nay (9/10/2013), CATP Hà Nội ra thông báo số148 /TB-CAHN-PV11-PC67 về việc cấm một số tuyến đường, phân làn giao thông trên địa bàn TP.Hà Nội trong dịp Quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Cụ thể, từ 06h00 đến 22h00 ngày 12/10/2013 và từ 06h00 đến 10h00 ngày 13/10/2013 tạm cấm các xe ô tô tải (trọng tải từ 1 tấn trở lên), xe ô tô chở khách từ 25 chỗ trở lên (trừ xe buýt, xe thu gom rác, xe giải quyết sự cố, xe có phù hiệu bảo vệ, xe phục vụ Lễ Quốc tang) không đi trên các tuyến đường: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông, Hai Bà Trưng, Lò Đúc, Nguyễn Công Trứ (đoạn từ Lò Đúc đến Phố Huế), Trần Khánh Dư, Phố Huế, Lê Duẩn (chiều từ Đại Cồ Việt đến Trần Nhân Tông), Ngô Thì Nhậm, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân.


Từ 06h00 đến 12h00 ngày 13/10/2013: tạm cấm các loại phương tiện nêu trên hoạt động trên các tuyến Lê Thánh Tông, Tràng Tiền, Hàng Bài (đoạn từ Lý Thường Kiệt đến Tràng Tiền), Hàng Khay, Tràng Thi, Điện Biên Phủ, Độc Lập, Hoàng Văn Thụ, Hùng Vương, Lê Hồng Phong, Hoàng Diệu, Trần Phú, Lê Trực, Sơn Tây, Kim Mã, Cầu Giấy, Xuân Thủy.


Tạm cấm toàn bộ phương tiện (trừ xe có phù hiệu bảo vệ, xe phục vụ Lễ Quốc tang) không đi trên các tuyến đường: Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Công Trứ (từ Trần Thánh Tông đến Lò Đúc), YecXanh, Trần Thánh Tông, Nguyễn Huy Tự, Lê Quý Đôn (từ Nguyễn Cao đến YecXanh), Nguyễn Cao (từ Lò Đúc đến Lê Quý Đôn), Hàn Thuyên, Hàng Chuối (từ Hàn Thuyên đến Nguyễn Công Trứ), Phạm Đình Hổ (từ Lò Đúc đến Tăng Bạt Hổ).


Để phục vụ công tác bảo vệ Lễ Quốc tang yêu cầu tất cả các chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông phải tự giác chấp hành Luật giao thông và sự hướng dẫn, điều tiết phân luồng phương tiện của lực lượng Cảnh sát.


Trong thời gian thực hiện phương án phân luồng giao thông, hướng đi của các loại xe tải, xe ca (bao gồm các xe ô tô không có việc phải đi vào trung tâm thành phố) như sau:


Các xe ô tô trong diện tạm cấm từ Quốc lộ 5 đi Quốc lộ 1A, 1B qua cầu Vĩnh Tuy, Thanh Trì đi các tỉnh phía Nam. Xe từ Quốc lộ 1A, 1B đi Quốc lộ 5 đến Pháp Vân qua cầu Thanh Trì hoặc theo đường Tam Trinh – Minh Khai để qua cầu Vĩnh Tuy đi các tỉnh phía Bắc.


Xe từ các tỉnh phía Nam đi phía Bắc (qua cầu Thăng Long) đến Pháp Vân qua Lĩnh Nam – lên đường trên cao hoặc Pháp Vân – Giải Phóng – Nguyễn Hữu Thọ – Nghiêm Xuân Yêm – đường trên cao – Phạm Văn Đồng – cầu Thăng Long hoặc đến Văn Điển rẽ Phan Trọng Tuệ – QL70 – Văn La – Văn Phú – Lê Trọng Tấn – Lê Văn Lương kéo dài – Khuất Duy Tiến – đường trên cao – Phạm Văn Đồng – Cầu Thăng Long. Xe từ cầu Thăng Long đi phía Nam theo đường Phạm Văn Đồng – đường trên cao – Quốc lộ 1B.


Xe từ Quốc lộ 3 đi Quốc lộ 5 theo đường Thăng Long Nội Bài – Quốc lộ 18 – Quốc lộ 1B – Quốc lộ 5.


(Công Lý)



Hà Nội cấm những đường nào dịp Quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp?

Sống là Nhân, chết là Thần

Trong số những lãnh tụ cách mạng mà bố tôi treo ảnh trịnh trọng ở trong nhà, ngay chính gian giữa, cách nay nửa thế kỷ, chỉ có một người mặc quân phục.



Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Ngày nào, trước khi bước vào nhà, lúc ngồi ăn cơm hay có chuyện vui đùa, tôi cũng đều thấy các vị. Cứ thế năm này qua năm khác. Vì vậy có thể nói gương mặt từng vị, tôi đều nhớ như in.


Người mặc quân phục, tôi nhớ không lầm thì là mầu trắng, đội mũ nhà binh, cũng mầu trắng, cặp mắt bên dưới vành mũ như phải nheo bớt lại để người nhìn vào khỏi bị chói, quân hàm quân hiệu tề chỉnh, được chú thích bên dưới là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Có lẽ bức ảnh ông chụp sau hòa bình nên có thể suy ra người trong ảnh tầm 45 tuổi. Một gương mặt trẻ, nghiêm trang bởi bộ quân phục nhưng không che được nét thư sinh, hiền hậu của một thầy giáo, mặc dù như khi lớn thêm chút nữa tôi mới biết ông đã dẫn dắt một nhóm vũ trang lúc đầu chỉ có 34 người, trang phục thập cẩm, rách rưới, vũ khí thô sơ và bị người Pháp cười nhạo là “mấy tên giặc cỏ”, thành đội quân đủ sức xoá xổ huyền thoại về những gã viễn chinh nhà nghề khổng lồ của châu Âu, châu Mỹ lúc bấy giờ và cả bây giờ. Nhưng những gì tôi biết về ông, kể cả vai trò quyết định của ông trong chiến thắng mùa xuân năm 1975, là chuyện của sau này, khi tôi tò mò khám phá lịch sử. Còn tại thời điểm ngày ngày ông từ trên cao nhìn đám trẻ chúng tôi như một vị bảo trợ cho hoà bình, thì tôi chỉ biết qua lời giải thích ngắn gọn của bố: Ông là vị tướng tài. Bố tôi nói điều đó bằng vẻ nghiêm trang của một người lính. Tất nhiên chả ai dám cãi bố nhưng nếu được đính chính thì tôi muốn nói thêm cho đầy đủ: Ông là vị tướng tài có khuôn mặt rất nhân từ.


Khỏi phải nói thái độ kính cẩn ra sao của bố tôi mỗi khi nhắc về ông, trong bất kể ngữ cảnh nào. Như những chuyện bố tôi kể lại, phần nhiều do ông nghe từ người khác, thì vị đại tướng hiện lên bằng vô số huyền thoại mang mầu sắc phép thuật. Không bao giờ và không ai trên đời có thể truy nguyên khởi nguồn của những câu chuyện vô cùng hấp dẫn và luôn kích thích trí tò mò ấy. Nó được kể lại rất tự nhiên rồi cứ thế mà lan truyền từ người này sang người khác. Đến mỗi người, lại có thêm những tình tiết ly kỳ mới. Vì thế, với những đứa trẻ chúng tôi, ông giống như vị tướng nhà trời. Sau này thì tôi nghiệm ra rằng, những vị tướng thản nhiên bước vào huyền thoại dân gian thuộc số không nhiều trên thế giới. Có thể đếm được tên họ trên mười đầu ngón tay và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm trong số đó.


song-la-nhan-chet-la-than2


Vì nhiều lý do mà mãi tận khi đã ở tuổi “Tri thiên mệnh”, tôi mới lần đầu đến thăm Điện Biên. Chúng tôi quyết định đi theo đường bộ là có ý muốn được trải nghiệm lại-dù chỉ là trong tưởng tượng- chính hành trình các cụ ta xưa hành quân, tải đạn, tải gạo… để Tố Hữu có tư liệu và cảm hứng khi viết: “Dốc Pha-Din chị ghánh anh thồ/đèo Lũng Lô anh hò chị hát/dù bom đạn xương tan thịt nát/không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh”. Thực ra đó cũng là gợi ý của một nhà sử học danh tiếng, khi ông biết tôi sẽ đi Điện Biên. Nhà sử học này bình thường khá lịch lãm nhưng thỉnh thoảng cũng rất “ác khẩu” nếu thấy cần phải làm thế. Ông bảo với tôi rằng, không đến Điện Biên thì “cuộc đời cậu coi như là đồ bỏ đi, còn nếu lần đầu đi Điện Biên mà bằng máy bay thì tôi khuyên cậu ở nhà!”. Và tôi đã làm theo lời khuyên của ông. Nhưng về cơ bản thì chúng tôi-và cả nhà sử học khuyên tôi-đã thất bại, bởi đường lên Điện Biên bây giờ thuộc số những con đường miền núi tốt nhất, đẹp nhất, dễ đi nhất Việt Nam. Bao nhiêu hồi hộp khi biển chỉ dẫn sắp đến “dốc Pha Din” hoá ra chỉ còn vương lại trong thơ Tố Hữu. Vèo một cái xe đã ở phía bên kia đèo, thậm chí còn chưa kịp hát hết vài câu. “Lịch sử” đã bằng phẳng, quang đãng, đơn giản đi hàng trăm lần, khó mà hình dung lại được.


Chiến thắng Điện Biên được 5 năm tôi mới có mặt trên thế giới này. Còn khi tôi có mặt ở giữa cái chiến trường khủng khiếp nhất thế giới một thời, thì những gì xứng đáng được ghi nhớ tại đó đã lùi lại 56 năm. Tôi vẫn nhớ rất rõ cái cảm giác khi chạm vào thung lũng Điện Biên-qua thuyết minh của một anh bạn từng sinh sống suốt thời thanh niên ở đó- là tôi thấy tâm hồn có một sự nhẹ nhõm qua cái thở phào. Cái thở phào của người cuối cùng cũng đã làm được thứ công việc mà mình thấy cần làm. Cái thở phào chính tôi cũng thấy bất ngờ. Có thể là do ám ảnh về địa danh Điện Biên đã hành hạ tôi quá lâu. Chỉ có điều, muốn nói gì thì nói, nó quá muộn so với tuổi và nghề nghiệp của tôi. Tuy vậy, việc đến Điện Biên muộn của tôi-chắc chắn là có lỗi-nhưng không chỉ hoàn toàn dở, mà cũng có cái hay. Những cảm nhận, suy tư không còn bồng bột, bốc đồng hoặc cũng bớt đi phần chủ quan hay cực đoan. Những gì mà tuổi trẻ thường lướt qua-vì quỹ thời gian còn nhiều, chẳng đi đâu mà vội-thì ở tuổi trung niên bán phần về già có xu hướng quan tâm cặn kẽ theo kiểu muốn tìm ra một kết luận, ít nhất cũng cho riêng mình.


Chuyến đi thăm Điện Biên cách nay ba năm của tôi chính là trong tâm trạng ấy. Tôi muốn thấy lịch sử, thay vì chỉ đọc hoặc nghe; tôi muốn tự mình khám phá, thay vì phải qua chỉ dẫn, tức là qua bộ lọc khác; tôi muốn lý giải, thay vì dựa vào thứ có sẵn. Mọi ý muốn tôi đều thực hiện được. Những gì tôi thấy cơ bản giống như những gì tôi nghe kể hoặc đọc được. Điều đó không còn gì phải nghi ngờ ngoài một vài khác biệt về cảm xúc. Chẳng hạn khi đọc những miêu tả về cuộc giằng co ác liệt giữa quân ta và quân viễn chinh Pháp trên từng mét hào; chuyện về từng đoàn quân ta bám nhau bò lên đánh chiếm đỉnh đồi giữa mưa đạn của địch; chuyện quân Pháp bị khối thuốc nổ nặng một tấn khiến nhiều tên vỡ màng nhĩ; chuyện tướng, lính đội quân viễn chinh lốc nhốc ra hàng… tôi chỉ thấy bừng bừng tự hào, thậm chí còn không giấu được niềm thích thú. Nhưng khi im lặng đứng trên đỉnh đồi A1, giữa lúc chiều tà, không một lời thuyết minh hùng hồn, không có bất cứ ai rót vào tai câu chuyện đã thuộc lầu, chỉ nhìn xuôi xuống theo những vệt mòn thời gian, nước mắt tôi cứ chảy ra không sao kìm được. Hoặc khi chui vào căn hầm chỉ huy của viên tướng bại trận Đờ-cát, thay vì thán phục sự kiên cố, bí ẩn của những vòng thép như cảm giác hồi bé nhìn qua ảnh chụp, thì tôi chỉ cứ muốn cười phá lên. Mỗi người phải tự mình trải nghiệm thì mới có cho mình câu trả lời. Tôi không thể giải thích đơn giản về điều đó với bạn đọc.


General Vo Nguyen Giap in military uniform, waving


Cuối cùng bí ẩn lớn nhất còn lại mà tôi đối mặt, có lẽ cũng thuộc về bí ẩn của lịch sử, chính là tài chỉ huy quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Không khó gì để tôi vượt qua mấy chục cây số đường rừng đã được nâng cấp từ lối mòn xưa nhưng vẫn đủ cho cảm giác là con đường quân sự, đến với địa danh Mường Phăng. (Giờ nghe nói con đường này đã mở rộng (hoặc có kế hoạch mở rộng để phục vụ khách tham quan được thuận lợi và nếu thế thì thật đáng tiếc hơn là đáng mừng, đáng trách hơn là đáng biểu dương. Hãy để cho thế hệ sau cảm nhận được một phần cái gập ghềnh, hiểm trở của một thời. Hành hương khác với đi trẩy hội thông thường ở chỗ sự mệt nhọc thân xác cũng là một giá trị). Nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi đến được với những cánh cửa mở vào thế giới bí ẩn còn lưu giữ ở nơi này. Những gì gắn với trận đánh Điện Biên lịch sử, gắn với vị Đại tướng lừng danh còn giữ lại khá tốt về vẻ bên ngoài. Tuy thế, ngoài cảm giác lịch sử vẫn hiện diện cùng với sự tĩnh mịch của thời gian, nó không giúp gì cho tôi trong việc cố gắng hình dung lại một phần tính chất khốc liệt của những quyết định, phần nhiều là mang tính cá nhân, của vị tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp.


Sức mạnh vượt trội về mọi phương diện của đội quân xâm lược ở thời điểm ấy là điều không cần phải nghi ngờ. Nó được điều hành bởi một bộ máy chiến tranh hoàn hảo xuyên Đại Tây dương, trực tiếp đặt dưới sự chỉ huy của những viên tướng dày dạn kiến thức quân sự cũng như trận mạc. Trên thực tế những viên tướng ấy thực sự là tinh hoa của nước Pháp.


Thử xem trong tay vị tướng ngoài 40 tuổi, xuất thân là thầy giáo dậy lịch sử của chúng ta có gì? Ông không hề qua bất cứ trường đào tạo quân sự nào. Cũng không có dấu hiệu cho thấy ông có năng khiếu chỉ huy chiến tranh. Ông chỉ có những kinh nghiệm mang tính mật truyền của lịch sử, được trao lại từ Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Ngô Thì Nhậm… Những nhà quân sự, chiến lược gia kỳ tài của đất nước. Nhưng tại sao những mật truyền ấy lại chọn ông chứ không phải ai khác, là điều vĩnh viễn nằm ngoài mọi phán đoán. Điều đó cũng giống như không thể nào phán đoán được dân tộc này còn có những bảo bối gì để giúp họ trường tồn. Trên thực tế, có rất ít nghiên cứu nghiêm túc nào của phía kẻ thù quan tâm đến lý do chết của họ mỗi khi đặt chân lên mảnh đất này. Họ thường đến như đi vào chỗ không người. Nhưng, thay vì hưởng niềm vinh quang chiến thắng, thời gian còn lại, họ chỉ loay hoay với mỗi một việc là tìm cách cuốn gói cho êm và cho đỡ bẽ mặt.


Một phần lý do đó chính là nghệ thuật rút lui của người Việt. Trong lịch sử nhân loại, ít có thủ đô nào lại bị bỏ trống nhiều như Hà Nội mỗi lần giặc tràn vào. Rút lui đã trở thành một bí ẩn quân sự của Việt Nam. Từ Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, đến Nguyễn Trãi, sau này là vua Quang Trung… đều sử dụng thuần thục diệu pháp đó. Một vị tướng tài bình thường thì chỉ cần quan tâm đến chiến thắng. Chiến thắng, dù với cái giá nào, đã đảm bảo cho tài năng và sự đúng đắn trong cách dùng binh của ông ta. Nhưng một vị tướng lỗi lạc không chỉ nghĩ đến chiến thắng chung cuộc, mà còn nghĩ đến, thậm chí quan trọng hơn cả chiến thắng, sự bảo toàn tối đa sinh mạng của hàng vạn hàng triệu binh lính và dân thường. Mọi người chỉ thấy Nguyễn Huệ thiên tài vì chưa đầy tuần lễ ông đã quét sạch mấy mươi vạn quân Thanh, mà không thấy chỗ thiên tài hơn của ông là khen kế lui binh về Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm. Khen tức là đề cao. Giờ đây đến lượt Võ Nguyên Giáp. Quyết định rút toàn bộ lực lượng pháo binh và bộ binh của ông, thay phương án “đánh nhanh thắng nhanh”, bằng phương án tiếp cận từ từ, bao vây để chắc thắng, đã được lịch sử chứng minh là thiên tài. Nhưng đấy là khi mọi thứ đã an bài và các sử gia có điều kiện ngồi trong phòng trà để suy luận và tranh luận. Còn ở vào khoảnh khắc phải đưa ra quyết định ấy, giữa nơi chiến địa mịt mùng, chỉ một mình vị đại tướng của chúng ta gánh chịu toàn bộ sức nặng của lịch sử, liệu ngoài ông ra có ai đủ can trường để chấp nhận? Ông thừa biết với quyết định ấy, ông phải đối mặt với hàng ngàn phán xét đang chờ để giáng xuống. Nếu vì cuộc rút lui ấy mà sau đó Điện Biên thất bại, toàn bộ quân ta bị tiêu diệt, toàn bộ xương máu, của cải mà cả dân tộc đổ ra trong suốt 9 năm ròng chả có nghĩa lý gì, thì điều gì sẽ đến với ông? Ông thừa sức để hình dung ra cái bản án kinh hoàng đó.


Tôi đã đứng trong căn hầm đại tướng, thử đặt mình vào hoàn cảnh của ông và tự thấy không còn gì lố bịch và nực cười cho bằng. Nhưng hiểu tâm trạng của ông lại hoàn toàn là điều có thể. Tôi tin chắc rằng, ngoài áp lực khổng lồ như đã nói, ông còn chịu áp lực từ chính những đồng chí, cấp dưới của ông? Họ cần ở ông một sự giải thích khiến họ bị thuyết phục. Điều đó trong đa số trường hợp là bất khả kháng. Ông cũng biết rõ như vậy, rằng có những điều không thể chia sẻ bởi chính bản thân ông cũng không sẵn ngôn ngữ thông thường để trình bày. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử thì vị đại tướng của chúng ta đã mất trắng một đêm để có cái quyết định lịch sử ấy. Không biết cái đêm kinh hoàng ấy bằng bao nhiêu phần cuộc đời ông? Chắc nó phải rất dài, rất khủng khiếp. Lịch sử hiện đại Việt Nam không thể thiếu cái đêm ấy, như một dấu mốc vĩ đại. Tiếc thay cho đến nay chưa có cuốn sách, bộ phim nào lấy chủ đề về cái đêm định mệnh ấy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm đề tài. Tuy chỉ một đêm, nhưng nó là mênh mông thời gian, dằng dặc lịch sử và vô tận về nỗi cô đơn con người.


Đó là một đêm lịch sử Việt Nam và thế giới quyết định ghi danh ông là thiên tài quân sự.


Rất ít vị tướng nào khiến kẻ thù khốn đốn nhưng lại nhận được lòng kính trọng từ phía họ, thay vì niềm căm thù, như đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đơn giản vì ông không định làm tướng. Từ hình hài bề ngoài đến tính cách của ông đều không hợp cho việc làm tướng trận. Ông chỉ muốn làm một người truyền bá tình yêu con người, tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên. Ông bất đắc dĩ mà phải cầm quân, vì sinh mệnh của đất nước Nhưng với bản chất của một nhà nhân văn chủ nghĩa, trước sau ông vẫn canh cánh với tình yêu đồng loại. Ông gọi những người thua cuộc là “kẻ thù danh dự”. Tận những ngày cuối của cuộc đời, ông vẫn cho thấy một sự nhẫn nại phi thường khi sống với triết lý phải thương yêu con người, phải thương yêu giống nòi, phải giữ gìn thứ quý giá nhất là độc lập. Và với dân tộc này, phải biết sống bằng sự tha thứ. Ông đã thị phạm những đạo lý lớn lao đó bằng chính cuộc sống của mình.


Giờ đây con người vĩ đại đó đã từ giã cõi trần, nơi ông đóng vai bảo trợ cho hoà bình, cho những chuẩn mực sống không thể thiếu để có một xã hội tử tế. Cùng chung tâm trạng với hàng triệu người, tôi cảm thấy trống vắng tiếc thương và lo lắng. Phần lịch sử hấp dẫn nhất đã dừng lại để bắt đầu đời sống của huyền thoại. Không thể tính xuể số trang sách đã, đang và sẽ còn viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp. Không thể kể hết những danh hiệu mà người đời phong tặng ông. Với cá nhân tôi, ông thuộc về số những nhân-thần của đất nước, những người có sứ mệnh (hoặc được tổ tiên giao cho nhiệm vụ) bảo trợ cho bờ cõi này. Khi sống họ là hiền nhân, là võ tướng. Khi từ trần họ hoá thần, tiếp tục giáo hoá và trấn ải, thu vén cương vực cho các thế hệ con cháu. Họ sẽ luôn có mặt trong mỗi gia đình, lành quê yên bình. Hơn hết, họ bất tử trong ký ức nhân dân và tiếp tục làm công việc che chở cho họ. Họ nhập cuộc đời họ vào trong mỗi tâm hồn con cháu, truyền mãi cái ý chí trường tồn để nó không bao giờ bị bất cứ kẻ thù nào làm cho nhụt chí.


Những người đã hoá thần nghĩa là không bao giờ chết.


Những dấu mốc trong cuộc đời đại tướng Võ Nguyên Giáp


Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, quê ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, những bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc.


Năm 1925, 14 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng. Năm 1929, ông tham gia cải tổ Tân Việt Cách Mạng Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giữ và bị giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế) vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp.


Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, ông được thả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Ông ra Hà Nội. Ông hoạt động đấu tranh cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai và dạy Sử – Địa ở trường tư thục Thăng Long.


Năm 1935, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Quang Thái, bạn học tại trường Quốc học Huế, một Đảng viên Cộng sản, em ruột nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai. Hai người ngụ tại một ngôi nhà ở phố Đường Thành, sau chuyển sang phố Nam Ngư, Hà Nội. Năm 1942, bà bị đày đi nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) rồi qua đời.


Năm 1940, với bí danh là Dương Hoài Nam, ông vượt biên sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 5 năm 1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông cùng các cán bộ cao cấp khác xây dựng cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.


Năm 1942, ông phụ trách ban “Xung phong Nam tiến’’. Tháng 12/1944, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy nhiệm ông đứng ra tuyên bố thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay).


Cuối tháng 3/1945, ông đưa đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu Quốc quân của Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam Giải Phóng Quân. Tháng 8/1945, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, làm tổng chỉ huy các đội Việt Nam Giải Phóng Quân và Ủy viên Ban chỉ huy lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.


Năm 1946, ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).


Ngày 19/12/1946, chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh Quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ.


Ngày 25/1/1948, ông được phong Đại tướng. Tháng 6/1950, theo Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh, ông giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, Tổng Chính ủy Bí thư Quân ủy Trung ương. Ông liên tục đảm nhiệm những chức vụ trên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975). Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân trong chiến tranh.


Trong một thời gian ngắn từ tháng 7/1960 đến tháng 1/1963, ông kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.


Năm 1980, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học – Kỹ thuật.


Năm 1991, Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80.


Con người và sự nghiệp của ông không chỉ tỏa sáng rực rỡ trên lĩnh vực quân sự mà còn trên mặt trận văn hóa-tư tưởng và một số lĩnh vực khác. Ông viết hàng trăm bài báo; gần 100 bản luận văn có giá trị trên nhiều lĩnh vực; đặc biệt, ông viết nhiều sách văn học.


(Công Lý)



Sống là Nhân, chết là Thần

Tuesday, October 8, 2013

Máy bay nào sẽ đưa Thi hài Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Quảng Bình?

Theo một nguồn tin từ Hãng hàng không quốc gia VN (Vietnam Airline – VNA), hãng này được vinh dự vận chuyển thi hài Đại tướng Võ Nguyên Giáp về an táng tại quê hương Quảng Bình.



Máy bay ATR-72

Máy bay ATR-72


Nguồn tin này cho biết ban đầu phương án vận chuyển thi hài Đại tướng bằng máy bay quân sự. Tuy nhiên, sau nhiều lần bàn thảo đã quyết định chuyển sang phương án vận chuyển bằng máy bay dân sự ATR 72 do VNA đảm nhiệm.


Để vận chuyển thi hài Đại tướng, sẽ có một số điều chỉnh đặc biệt trên máy bay như tháo ghế, sắp xếp lại nhằm tạo khoảng trống trong máy bay.


Nguồn tin từ hãng cũng cho biết không lựa chọn các máy bay cỡ lớn như Boeing, Airbus do nhiều lý do. Cụ thể, máy bay Boeing sẽ ảnh hưởng đến khai thác tại sân bay Đồng Hới (Quảng Bình) do không vào sân đỗ được. Máy bay Airbus phải nâng quan tài lên bằng máy, trong khi sử dụng máy bay ATR 72 vẫn giữ được hình thức trang trọng của tang lễ, khi đội tiêu binh vẫn có thể nâng quan tài bằng tay lên máy bay.


Được biết, do số chỗ trên máy bay ATR 72 rất hạn chế nên Ban tang lễ và người nhà Đại tướng sẽ di chuyển trên một máy bay khác là Airbus 320.


(Thanh Niên)



Máy bay nào sẽ đưa Thi hài Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Quảng Bình?

Monday, October 7, 2013

John McCain bị người Mỹ "mắng tơi bời" vì chê Tướng Giáp

Là một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam, tôi tôn trọng tướng Giáp hơn John McCain rất nhiều.



Thượng nghị sĩ McCain

Thượng nghị sĩ McCain


Ngày 6/10, Thượng nghị sỹ, cựu ứng viên Tổng thống John McCain đã có bài viết đăng trên tờ Wall Street Journal. Bài viết kể về 2 lần vị nghị sỹ này được gặp mặt Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam và tranh thủ “chữa thẹn” cho việc ông ta đã từng lái máy bay ném bom miền Bắc Việt Nam, bị bắn rơi và bị bắt sống khi nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch – Hà Nội vào năm 1967.


Với tiêu đề “Ông ấy đã đánh bại chúng tôi trong một cuộc chiến nhưng chưa bao giờ thắng chúng tôi trong một trận đánh”, John McCain đã mượn lại ý của tướng William Westmoreland (cựu Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ) biện minh cho thất bại của quân đội Mỹ ở chiến trường Việt Nam với đại ý là “khác với các tướng lĩnh của Mỹ, Tướng Giáp được quyền mất nhiều quân hơn nên mới chiến thắng”.


Ngay lập tức, bài báo này của ông John McCain đã nhận được hàng trăm bình luận, phản hồi của độc giả trên trang Wall Street Journal. Đa số độc giả cho rằng đây là một bài báo vô nghĩa và nó càng thể hiện sự yếu kém của chính bản thân ông thượng nghị sỹ và của chính phủ Mỹ.


Một độc giả có tên Kenneth Deardorff viết: “Là một cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở chiến trường Việt Nam, tôi tôn trọng tướng Giáp hơn ông John McCain rất nhiều. Tướng Giáp được gọi là “Napoleon đỏ” trong khi thượng nghị sĩ McCain, John Kerry… đang tiêu diệt nước Mỹ của chúng tôi thông qua các chiêu bài chính trị hoặc “các cuộc chiến tranh bằng mọi phương tiện”.


Bình luận của độc giả có tên Kenneth Deardorff

Bình luận của độc giả có tên Kenneth Deardorff


Với một bình luận rất dài, độc giả Douglas Tornese viết: “Tôi không có ác cảm đối với tướng Giáp. Ông đã làm những gì cần phải làm cho đất nước của mình. Nhưng tôi nhận thấy có vấn đề là các chính trị gia Mỹ đã và đang đưa thanh niên của đất nước này vào chỗ chết ở nước ngoài mà không có lý do chính đáng nào khác ngoài việc phục vụ cho sự nghiệp chính trị của họ… Tôi hoàn toàn tin rằng nếu Obama là Tổng Thống Mỹ trong Thế chiến II, ông ta sẽ nói chính xác quân Đức ở đâu và khi khi nào các lực lượng đồng minh sẽ tấn công vào bờ biển Normandy. Tại sao tôi nói vậy? Bởi vì khi đó ông ấy sẽ biết chính xác họ cần bao nhiêu binh sĩ và chính xác còn lại bao nhiêu người khi rút lui. Trong một cuộc chiến tranh, khi cuộc sống đang bị đe dọa, liệu sinh mạng có còn ý nghĩa gì nữa? Hoặc bước vào cuộc chiến để giành chiến thắng, hoặc chấp nhận một cuộc sống mạo hiểm (không biết sống chết lúc nào)…”


Không khó để nhận ra hàm ý sâu xa trong bình luận của độc giả này. Ông ta nhắc đến cuộc tấn công đổ bộ vào bờ biển Normandy (Pháp) mà liên quân Mỹ – Anh và đồng minh đã thực hiện năm 1944. Khi chiến dịch này kết thúc, gần 60.000 quân đồng minh đã thiệt mạng trong khi quân phát xít Đức chết khoảng 23.000 người. Nếu nói theo kiểu lập luận của ông John McCain và trước đó là tướng Westmoreland, phải chăng khi đó tướng lĩnh Mỹ – Anh đã quá “dốt” nên mới thiệt hại nhiều gấp 3 lần đối phương? Trong bình luận này của độc giả Douglas Tornese, người ta cũng nhìn thấy hình bóng câu nói “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Đó là một sự xấu hổ mà kinh nghiệm của mình tại Việt Nam không dạy Thượng nghị sĩ McCain rằng Hoa Kỳ nên tránh xa những cuộc chiến tranh vô nghĩa

Đó là một sự xấu hổ mà kinh nghiệm của mình tại Việt Nam không dạy Thượng nghị sĩ McCain rằng Hoa Kỳ nên tránh xa những cuộc chiến tranh vô nghĩa


Trong một bình luận khác, độc giả ký tên là Arthur Sido viết: “Đó là một sự xấu hổ mà kinh nghiệm của mình tại Việt Nam không dạy Thượng nghị sĩ McCain rằng Hoa Kỳ nên tránh xa những cuộc chiến tranh vô nghĩa. Chúng tôi đã phải tham gia những cuộc chiến kiểu vậy gần hết cuộc đời mình và cùng với đó là tiêu tốn hàng trăm tỷ USD, khiến những thanh niên Mỹ bị tàn tật suốt đời”.


john-mccain-bi-nguoi-my-mang-toi-boi-vi-che-tuong-giap4


Với một thái độ có vẻ khá giận dữ, độc giả Lee Zehrer viết: “Đó là một tuyên bố ngu ngốc… bởi một kẻ ngốc. John McCain sẽ ban cho đất nước này một đặc ân nếu ông ta nghỉ hưu ngay từ bây giờ”.


Có vẻ như vẫn chưa “thỏa mãn” nên sau đó, chính độc giả Lee Zehrer lại quay lại và bình luận thêm một câu: “Ông ta (John McCain) đã làm rụng 3 cái máy bay (là tài sản của chính phủ) và tôi nghĩ là ông ta phải được cho đi học bay lại”.


Trong sự nghiệp của mình, ông McCain đã mất 3 cái máy bay. Tất cả mọi người nếu có vấn đề về kỹ năng bay sẽ bị đánh giá và phán xét bởi các quan chức Hải quân. Một chiếc máy bay của ông McCain đã suýt đánh chìm cả chiếc hàng không mẫu hạm. Nhưng khi cha của ông ấy là một Đô đốc, liệu ai có quyền đặt ra câu hỏi ấy? – độc giả Lee Zehrer viết.


Độc giả James M. Smith viết: “Nếu mọi người thực sự muốn được tự do làm chủ đất nước mình và không bị một thế lực nước ngoài nào thống trị, các bạn sẽ làm gì ngoài chiến đấu đến hơi thở cuối cùng?”.


“Mỹ đã can thiệp vào chính trị Việt Nam và hỗ trợ một cuộc đảo chính giết người chống lại một chính phủ được dân bầu, sau đó leo thang chiến tranh dựa trên những lời nói dối (sự kiện Vịnh Bắc Bộ). Cuộc chiến tranh đã được tiến hành một cách tàn bạo ( bằng chất độc da cam, và các cuộc thảm sát ở những làng quê) để đổi lại 50.000 lính Mỹ đã thiệt mạng”, độc giả Mark Whitton bình luận.


Độc giả Stephen Keith viết: “Làm thế nào bạn có thể giành chiến thắng mọi trận chiến, nhưng thua cả một cuộc chiến tranh? Bởi chúng ta không biết mục tiêu của mình là gì khi chiến đấu… Bạn không thể giành chiến thắng nếu bạn thậm chí không biết lý do tại sao bạn đang cầm súng. Người Việt Nam đã biết chính xác họ chiến đấu vì cái gì còn chúng ta thì không. Thất bại là điều không thể tránh khỏi”.


“Tôi phi công lái bay máy bay trực thăng ở chiến trường Việt Nam và chứng kiến ​​sự gia tăng hoạt động của các lực lượng Việt Cộng. Nhưng các phương tiện truyền thông Mỹ khẳng định đường mòn Hồ Chí Minh không tồn tại và nhiều người Mỹ đã cả tin tin. Hơn nữa, tôi cũng đã chứng kiến ​​các phương tiện truyền thông của Mỹ đã liên tục phát đi những tin tức giả mạo”, Raymond Klett nói.


Độc giả David Pelino trả lời bài viết của ông John McCain: “Việt Cộng đã can đảm, kiên quyết và đã đánh bại cả Pháp và Mỹ. Ông McCain hãy trả mọi thứ về đúng bản chất thực sự của nó đi”.


(Infonet)



John McCain bị người Mỹ "mắng tơi bời" vì chê Tướng Giáp